Giúp trí nhớ về ung thư tiền liệt tuyến

Khoảng 90% ung thư tiền liệt tuyến còn khu trú khi tầm soát

Bệnh nhân còn có thể sống hơn 10 năm có thể áp dụng theo dõi tích cực (active surveillance) nếu BƯỚU NHỎ (low volume), độ biệt hóa (grade) thấp hay trung bình Gleason tống < 7 (3+4, không áp dụng 4+3 được xem là độ ác tính cao hơn), tổn thương không sờ được (thăm trực tràng không thấy bướu mà chỉ qua sinh thiết hoặc siêu âm TRUS và PSA dưới 10. Continue reading “Giúp trí nhớ về ung thư tiền liệt tuyến”

Giúp trí nhớ DỊCH TỂ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN

 

  • Tuổi trung bình chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt là 68 tuổi. Nam dưới 50 tuổi bị chỉ có khoảng 2%

 

  • Ung thư tiền liệt tuyến là bệnh không gây đau đớn, tỷ lệ tỷ vong đặc hiệu do ung thư thấp

 

  • Nguy cơ ung thư đặc biệt cao ở những người có gia đình bị ung thư tiền liệt tuyến

 

  • 15% có yếu tố di truyền và gia đình

 

  • Người có mang gen BRCA2 có tỷ lệ mắc ung thư cao hơn

 

  • Viêm mạn tính và nhiễm trùng đóng vai trò quang trọng trong ung thư tiền liệt tuyến

 

  • Estrogen có thể là một chất tiền sinh ung thư (procarcinogen)

 

  • Thụ thể androgen đóng vai trò quang trọng trong ung thư tiền liệt tuyến

 

  • Finasteride làm gia tăng độ nhạy PSA và thắm trực tràng

Bướu tế bào Leydig

Bướu tế bào Leydig là một loại bướu tinh hoàn. Bướu có hoạt động hóc môn làm sản sinh ra các triệu chứng nữ tính hóa ở nam giới.  Mặc dù là loại bướu hiếm gặp nhưng cũng chiếm tới 1-3% trong tất cả loại bướu tinh hoàn. Có thể là bướu thuần tế bào Leydig hay bướu hỗn hợp do kết hợp với những loại bướu của tế bào sinh tinh hay bướu của thừng tinh. Điều trị lý tưởng là cắt tinh hoàn, nhưng ngày nay các phương pháp bảo tồn đang gia tăng đặc biệt trong bệnh nhân còn trẻ. Continue reading “Bướu tế bào Leydig”

Phẫu thuật cho bướu Wilms

Bướu Wilms, điều trị bao gồm phẫu thuật (cắt thận toàn phần hay bán phần) là ung thư đứng hàng thứ 5 ở trẻ em và là ung thư thận hàng đầu ở trẻ em. Điều trị bướu Wilms là một điển hình thành công do áp dụng kết hợp đa mô thức dựa theo National Wilms’ Tumor Study Group (NWTSG) và Societe Internationale d’Oncologie Pediatrique (SIOP).
Trong 50 năm qua, chỉ với phẫu thuật thì tỷ lệ sống còn sau 2 năm sau cắt thận chỉ là 20%. Sau này kết hợp xạ trị hỗ trợ thì tỷ lệ sống còn tăng lên 50%. Nhờ vào sự kết hợp của các nhà ung thư học, phẫu thuật, giải phẫu bệnh và với những thuốc mới vincristine, dactinomycin (actinomycin D), và doxorubicin, thì tỷ lệ sống còn trong thế kỷ 20 lên 90%.

Continue reading “Phẫu thuật cho bướu Wilms”

Bướu tuyến thượng thận – tổng quan

Bướu tuyến thượng thận là sự tăng sản lành tình hay ác tính của tuyến thượng thận. Trong số đó làm tăng sản xuất quá mức hormon. Ung thư tuyến thượng thận gồm có các loại sau neuroblastoma, adrenocortical carcinoma, và một số ít là pheochromocytomas. Hầu hết pheochromocytomas và tất cả adrenocortical adenomas là bướu lành, không di căn hay xâm lấn mô xung quanh, nhưng có thể gây những vấn đề sức khỏe đáng kể do bất cân bằng hormon

Continue reading “Bướu tuyến thượng thận – tổng quan”

Nạo hạch chậu trong ung thư tiết niệu

Nạo hạch chậu, tiếng anh là pelvic lymph node dissection (PLND) ( bài nay dùng từ viết tắt PLND), có vai trò quan trọng trong điều trị ung thư tiết niệu như trong hầu hết ung thư bàng quang và tiền liệt tuyến. Những ung thư khác bao gồm ung thư niệu đạo ung thư dương vật. PLND cũng có vai trò trong ung thư sản khoa cũng như bệnh lý ác tính vùng chậu. Bài này chỉ đề cập tới ung thư tiết niệu

Bướu niệu mạc của bể thận và niệu quản

Bướu niệu mạc của thận và niệu quản tương đối hiếm. Ở bể thận chiếm 10% tất cả các loại bướu ở thận, và chỉ chiếm 5% trong tất cả bướu niệu mạc của đường tiết niệu. Bướu niệu quản chiếm phân nửa so với bướu bể thận. Ung thư tế bào chuyển tiếp chiếm khoảng 95% trong tất cả các bướu niệu mạc.

Dương vật nhỏ sau điều trị ung thư tiền liệt tuyến

Điều trị ung thư tiền liệt tuyến có thể gây tác dụng phụ là dương vật nhỏ, căng cứ theo nghiên cứu mới.Và bệnh nhân cảm thấy hối hận rất nhiều vì chuyện này. Dương vật nhỏ đi không là biến chứng thường gặp, chỉ chiếm 25 trong 948 bệnh nhân (2,6%) theo nghiên cứu thực hiện bởi bác sĩ Paul Nguyễn, nhà ung thư học từ Viện Ung Thư Dana-Faber ở Boston Masshachusetts. Kết quả này được xuất bản trong Tạp chí Urology Tháng giêng 2013.
Những nhà nghiên cứu thấy nhiều than phiền ở nhóm điều trị bằng phẫu thuật (p=.004) hơn nhóm điều trị bằng xạ trị hay nội tiết.
Tỷ lệ giảm là 3.73% cho phẫu thuật (19 trong 510), 2.67% xạ trì kết hợp với nội tiết (6 trong 225), và 0% xạ trị đơn thuần (0 trong 213).
Chỉ có 10% bác sĩ hoặc ít hơn thảo luận với bệnh nhân về vấn đề này khi điều trị ung thư tiền liệt tuyến.
Song song với vấn đề giảm kích thước dương vật bệnh nhân cũng có rối loạn tình dục.
Giảm kích thước dương vật cũng kèm theo gia tăng mức độ hối tiếc về điều trị, vì ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Giảm kích thước dương vật là do cảm nhận (perception) hơn là giảm kích thước thật sự.
Tuy nhiên nghiên cứu này lại là đánh giá bằng bảng câu hỏi cho bệnh nhân chứ không phải đo kích thước dương vật. Nhưng có những nghiên cứu khác. trong một nghiên cứu đo chiều dài dương vật trước và sau nạo hạch thấy kích thước dương vật giảm sau 1 tháng từ 11.77 cm giảm xuống còn 11,13 cm (J Endourol. 2011;25:65-69).
Trong nghiên cứu tiền cứu ở bệnh nhân điều trị nội tiết như là điều trị ban đầu cho ung thư tiền liệt tuyến thấy chièu dài dương vật giảm sau 15 tháng từ 10.76 còn 8.05 cm (J Sex Med. 2011;8:3214-3219). Và nghiên cứu này thấy không có liên quan giảm chiều dài dương vật và giảm ham muốn. tuy nhiên bác sĩ Nguyễn và đồng sự nói có sự liên quan rối loạn cương và trối loạn cương.
Cảm nhận của bệnh nhân về giảm chiều dài dương vật là điểm chính.
Bác sĩ Cormier không đo chiều dài dương vật thật sự, “vì điều này có thể làm cho bệnh nhân rất căng thẳng, bệnh nhân cảm nhận là điểm chính yếu”
Theo Medscape urology News

BCG trong điều trị ung thư bàng quang

The classic appearance of carcinoma in situ as a fHiện tại, bacillus Calmette-Guérin (BCG) là thuốc duy nhất được chấp nhận bởi FDA sử dụng điều trị chính trong ung thư bàng quang dạng carcinoma in situ (CIS) (hình bên). BCG “hất cẳng” phẫu thuật cắt bàng quang toàn phần cho điều trị CIS trong những năm giữa 1980. Tỷ lệ sống còn đặc hiệu (Disease-specific survival ) đạt tỷ lệ 63% trong 15 năm so với cắt bàng quang toàn phần.

Phẫu thuật mở rộng bàng quang

Phẫu thuật mở rộng bàng quang ( tiếng anh bladder augmentation hay augmentation cystoplasty )  là phẫu thuật cho người lớn hay trẻ em dung tích bàng quang không đủ hay độ dãn nở của cơ detrusor yếu (adequate bladder capacity or detrusor compliance). Đối với nhiều bệnh nhân, phẫu thuật này cho phép phục hồi lại chức năng chứa đựng an toàn của bàng quang để bảo vệ chức năng đường tiểu trên (thận).

Bệnh da không ác tính của cơ quan sinh dục nam

Condyloma acuminata (Image courtesy of Hon Pak, MDTổn thương da không ác tính của cơ quan sinh dục, là bệnh lý ngoài da nhà tiết niệu học thường thấy nhất. Hầu hết các bệnh này, chẩn đoán có thể chắc chắn bằng cách khám lâm sàng và bệnh sử, nhưng, trong vài trường hợp, cần phải sinh thiết. Bài này nói về bệnh ngoài da không đặc hiệu cho cơ quan sinh dục mà có thể gặp bất kỳ vùng nào của cơ thể.   

Bệnh da ác tính của cơ quan sinh dục

Hầu hết bệnh da ác tính cơ quan sinh dục là ung thư tế bào vãy và có liên quan với human papillomavirus (HPV). Tần suất toàn bộ của của HPV DNA ở ung thư dương vật là 40-50%. Ít gặp hơn ung thư xuất hiện adnexia da, tế bào sắc tố, hay mô mềm, hạch bạch huyết. Di căn da dương vật là hiếm và thường kết hợp với bệnh lý ác tính khác.

Theo dõi ung thư tiền liệt tuyến đang điều trị

Sau cắt tiền liệt tuyến toàn phần

  • Sau 1 tháng tái khám, lúc tái khám thử PSA, tổng phân tích nước tiểu, creatinine máu.
  • Sau 3 tháng tái khám, sau đó là 6 tháng trong vòng 2 năm, sau đó mỗi 1 năm tái khám 1 lần: PSA, creatinine máu

Sau xạ trị

  • Mỗi 6 tháng trong vòng 2 năm, sau đó hàng năm: PSA, creatinin máu
  • Một lần trong năm: siêu âm bàng quang tiền liệt tuyến  

Đang điều trị hoc-mon

  • 3 tháng khởi đầu điều trị hoc-mon: PSA, creatinin máu, testosteron máu, và làm bilan gan.
  • Mỗi 6 tháng sau: PSA và creatinin máu
  • Hàng năm, siêu âm bàng quang tiền liệt tuyến và thận 2 bên.

Hoặc kiểu điều trị

  • Nếu đau xương thì có thể là chèn ép thần kinh: làm xạ hình xương, MRI tủy sống

Chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến

Ung thư tiền liệt tuyến là bệnh ung thư thường gặp ở nam giới, thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng. Mặc dù ung thư phát triễn rất chậm, tuy vậy ung thư này cũng gây tử vong 10% trong các trường hợp tử vong vì ung thư, hàng ngàn người chết vì bệnh này mỗi năm.

Bướu thận

Ung thư thận chiếm 3% trong tất cả các loại ung thư, và đứng hàng thứ 3 trong ung thư tiết niệu ( sau ung thư tiền liệt tuyến và ung thư bàng quang. tỷ lê nam/nữ là 1/2. Tỷ lệ gia tăng dần dần ở các nước công nghiệp vì lý do cải tiến kỹ thuật chẩn đoán và gia tăng yếu tố môi trường, chúng ta có thể chia ung thư thận làm 2 nhóm.