Những lời khuyên cho bệnh nhân bướu lành tiền liệt tuyến

Bệnh bướu lành tiền liệt tuyến là bệnh thường gặp ở đàn ông trên 50 tuổi. Những triệu chứng ban đầu có thể là tiểu nhiều lần, tiểu không hết, tiểu đêm , tiểu phải rặn, tia tiểu yếu. Và nếu để bệnh nặng hơn có thể gây bí tiểu, tiểu máu, suy thận và sỏi bàng quang Continue reading “Những lời khuyên cho bệnh nhân bướu lành tiền liệt tuyến”

Giúp trí nhớ về ung thư tiền liệt tuyến

Khoảng 90% ung thư tiền liệt tuyến còn khu trú khi tầm soát

Bệnh nhân còn có thể sống hơn 10 năm có thể áp dụng theo dõi tích cực (active surveillance) nếu BƯỚU NHỎ (low volume), độ biệt hóa (grade) thấp hay trung bình Gleason tống < 7 (3+4, không áp dụng 4+3 được xem là độ ác tính cao hơn), tổn thương không sờ được (thăm trực tràng không thấy bướu mà chỉ qua sinh thiết hoặc siêu âm TRUS và PSA dưới 10. Continue reading “Giúp trí nhớ về ung thư tiền liệt tuyến”

Áp – xe tiền liệt tuyến là gì?

Hỏi: Tôi là một bệnh nhân 56 tuổi có rất nhiều vấn đề với cơ quan sinh dục và đường tiểu của tôi, vì thế mà bác sĩ tiến hành điều trị kháng sinh cho tôi. Nhưng tôi không khỏe hơn. Bây giờ bác sĩ lại nói có thể tôi bị áp-xe tiền liệt tuyến. Vậy bệnh đó có nghĩa là gì vậy ? và điều trị là gì ? tại sao trước đây bác sĩ nói tôi mắc các bệnh khác nhau vậy ?

Continue reading “Áp – xe tiền liệt tuyến là gì?”

Áp – xe tiền liệt tuyến là gì?

Hỏi :
Tôi là một bệnh nhân 56 tuổi có rât nhiều vấn đề với cơ quan sinh dục và đường tiểu của tôi, vì thế mà bác sĩ tiến hành điều trị kháng sinh cho tôi. Nhưng tôi không khỏe hơn. Bây giờ bác sĩ lại nói có thể tôi bị áp-xe tiền liệt tuyến. Có nghĩa là gì vậy ? và điều trị là gì ? tại sao trước đây bác sĩ nói tôi mắc các bệnh khác nhau vậy ?
Trả lời : 
 

 

Áp – xe tiền liệt tuyến là một bệnh. Tôi đề nghị bạn thảo luận vớibác sĩ của bạn là chủ yếu. Đặc biệt nếu bác sĩ của bạn là bác sĩ tiết niệu thì ông ấy có thể giúp ích cho bạn đó. Viêm tiền liệt tuyến do vi trùng là tình trạng nhiễm trùng tiền liệt tuyến của bạn. Tiền liệt tuyến như ông biết là cơ quan của hệ tiết niệu sinh sản nam giới. Không may mắn là tiền liệt tuyến nằm rất sâu trong cơ thể con người, nằm sâu trong vùng chậu. Cách sờ được nó phải qua hậu môn trực tràng. Vì nhiễm trùng tiền liệt tuyến là gây viêm cơ quan này nên đau, bác sĩ nghi do vi trùng nên tiền hành điều trị kháng sinh. Một áp – xe có nghĩa là một dạng nhiễm trùng, nhiễm trùng khu trú hình thành một khối to. Khối áp xe này có một hàng rào xung quanh ngăn cản kháng sinh thấm vào bên trong. Do đó, áp-xe xảy ra khi nhiễm trùng ban đầu không  được điều trị kịp thời và hoặc vi trùng quá mạnh cho nên kháng sinh không có tác dụng. Vì thế mà điều trị một áp-xe song song với kháng sinh phải dẫn lưu mủ ra ngoài. Có thể qua niệu đạo hay qua trực tràng . Điều trị kháng sinh phải kéo dài 1 tháng đến một tháng rưỡi.  

Phẫu thuật bóc bướu tiền liệt tuyến

Phẫu thuật bóc bướu tiền liệt tuyến hay cắt tiền liệt tuyến đơn giản khác với cắt tuyến tiền liệt triệt để. Trong đó cắt tiền liệt tuyến đơn giản là khoét( hay bóc) phần u tuyến tiền liệt tăng sản lành tính, và cắt tiền liệt tuyến toàn phần triệt để là phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt, túi tinh, và các ống dẫn tinh vì lý do ung thư.

Mổ bóc bướu tiền liệt tuyến có 3 phương pháp tiếp cận khác nhau: (1) sau xương mu, (2) trên xương mu, và (3) qua tầng sinh môn. Cắt tiền liệt tuyến đơn giản sau xương mu là mổ lấy u tuyến tiền liệt tăng sản thông qua một vết rạch trực tiếp vào bao tuyến tiền liệt trước.Cắt tiền liệt tuyến đơn giản trên xương mu là cắt bỏ mô tuyến tiền liệt tăng sản thông qua một vết mổ ngoài phúc mạc và xẻ thành trước của bàng quang. [1] Bệnh nhân thường được chỉ định cho mổ bóc bướu tiền liệt tuyến thường tuổi 60 tuổi trở lên.

Các lựa chọn điều trị xâm lấn 

Ở những bệnh nhân sau khi đã điều trị nội và các phương pháp xâm lấn tối thiểu khác không thành công, các phương pháp điều trị xâm lấn hơn cần được xem xét, chẳng hạn như việc sử dụng phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt qua niệu đạo (TURP) hoặc cắt tuyến tiền liệt mở.

Những lợi thế của mổ bóc bướu tiền liệt tuyến hơn TURP là có thể lấy đi hoàn toàn u tuyến tiền liệt dưới hình trực tiếp. Tuy nhiên, các phương pháp  này không lọai trừ phải tiếp tục theo dõi ung thư tuyến tiền liệt bởi vì các khu vực ngoại vi tuyến tiền liệt vẫn còn là vùng hay có ung thư. 

Ưu điểm của bóc bướu tuyến tiền liệt sau xương mu

Ưu điểm của kỹ thuật sau xương mu hơn cách tiếp cận trên xương mu bao gồm

  • Bộc lộ giải phẫu tuyến tiền liệt tốt
  • Nhìn thấy trực tiếp các u tuyến có thể bóc bỏ hoàn toàn.
  • Phân chia chính xác của niệu đạo tiền liệt tuyến, tối ưu hóa bảo quản cơ thắt ngừa tiểu không kiểm soát 
  • Nhìn thấy trực tiếp các hố tuyến tiền liệt sau khi mổ có thể kiểm soát xuất huyết
  • Chấn thương bàng quang tối thiểu

Ưu điểm của bóc bướu tuyến tiền liệt trên xương mu

Ưu điểm chính của phương pháp tiếp cận trên xương mu so với cách tiếp cận sau xương mu là nó cho phép nhìn tốt hơn của các cổ bàng quang và lỗ niệu quản và do đó là phù hợp hơn cho những bệnh nhân có: 
  • Tiền liệt tuyến lớn, lồi thùy giữa vào bàng quang 
  • Dùng đồng thời có túi cùng bàng quang có triệu chứng
  • Bàng quang tích lớn
  • Béo phì (đến một mức độ mà làm cho truy cập vào các không gian sau xương mu khó khăn hơn

Ưu điểm cắt tuyến tiền liệt qua tầng sinh môn gồm

  • Khả năng để điều trị tuyến tiền liệt và áp xe tuyến tiền liệt
  • Ít đau sau phẫu thuật 
  • Khả năng để tránh không gian sau xương mu
Về điểm cuối cùng với phẫu thuật sau xương mu hoặc trên xương mu sẽ khó khăn hơn ở những bệnh nhân đã được phẫu thuật trước khi sau xương mu.

Nhược điểm của mổ
bóc bướu tiền liệt tuyếnMổbóc bướu tiền liệt tuyến không có bất lợi khi so sánh với TURP. Gồm tỷ lệ tử vong cao hơn và biến chứng chảy máu, thời gian nằm viện kéo dài hơn.
Một bất lợi cho tiếp cận trên xương mu là không thấy rõ vùng mỏm của tuyến tiền liệt, vì vậy có biến chứng hậu phẫu tiểu không tự chủ và chảy máu sau mổ tại vùng này.

Chỉ định mổ mở bóc bướu tuyến tiền liệt

Các chỉ định cho cả TURP hoặc mổ bóc bướu tiền liệt tuyến bao gồm:

  • Bí tiểu cấp tính
  • Nhiễm trùng đường tiểu dai dẳng hoặc tái phát
  • Xuất huyết đáng kể hoặc tiểu máu tái phát
  • Sỏi bàng quang thứ phát do bế tắc lối thoát bàng quang
  • Triệu chứng đáng kể từ tắc nghẽn đầu ra bàng quang mà không đáp ứng với điều trị nội khoa hoặc xâm lấn tối thiểu
  • Suy thận thứ phát do tắc nghẽn ngõ ra bàng quang mạn tính

Suy tim sung huyết

Các phẫu thuật cắt qua niệu đạo (TUR) hội chứng giảm natri huyết do pha loãng là thường gặp và không xảy ra với mổ bóc bướu tiền liệt tuyến. Tỷ lệ mắc hội chứng TUR trong một TURP là khoảng 2%. Do đó, ở bệnh nhân có nguy cơ suy tim sung huyết do bệnh tim phổi, mổ mở tuyến tiền liệt sẽ cho một nguy ít hơn nhiều so với TURP.

Kích thước tuyến tiền liệt

Khi tuyến tiền liệt lớn hơn 75 g hoặc lớn hơn thì nên chỉ định mổ mở, so với các bác sĩ phẫu thuật có thể cắt bỏ đáng tin cậy với TURP trong 60-90 phút.

Bệnh lý bàng quang

Ở những bệnh nhân đồng thời bàng quang bệnh lý phức tạp mà tắc nghẽn đầu ra của họ (ví dụ, một phép tính bàng quang lớn hoặc khó khăn, triệu chứng bàng quang diverticulum), tuyến tiền liệt mở vẫn là thủ tục của sự lựa chọn. Ngoài ra, bệnh nhân bị bệnh cơ xương khớp mà ngăn cản vị trí bệnh nhân thích hợp ở vị trí sạn ở trong bọng đái lưng cho TURP có thể được hưởng lợi từ một tuyến tiền liệt mở.

Chống chỉ định để mổ bóc bướu tiền liệt tuyến

Mổ bóc bướu tiền liệt tuyến bị chống chỉ định trong sự hiện diện của bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Nếu ung thư bị nghi ngờ, một sinh thiết tuyến tiền liệt chính thức nên được thực hiện trước khi phẫu thuật được xem xét.

Nếu phát hiện nội soi bàng quang cho thấy u tuyến cản trở chủ yếu liên quan đến việc thùy trung bình, phương pháp tiếp cận trên xương mu có thể được ưa thích hơn các kỹ thuật sau xương mu, bởi vì các thủ tục trên xương mu tối ưu hóa tiếp xúc giải phẫu.

Ngoài ra, tuyến tiền liệt sau xương mu cung cấp chỉ giới hạn truy cập đến bàng quang, đó là một yếu tố quan trọng nếu một diverticulum bàng quang đòi hỏi phải cắt bỏ hoặc cùng tồn tại nếu một phép tính bàng quang lớn phải được loại bỏ trực tiếp.

Cách tiếp cận đáy chậu có thể được chỉ định ở những bệnh nhân mà khả năng tình dục vẫn còn quan trọng. Trong thủ tục này, các neurovascular giải phẫu đáy chậu bị xâm lược rộng rãi hơn là trong các kỹ thuật mở khác có sẵn.

Chuẩn bị

Vị trí của bệnh nhân

Trong phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt sau xương mu (Millin), bệnh nhân được đặt trên bàn mổ trong tư thế nằm ngửa trong Trendelenburg nhẹ.

Trong cách tiếp cận trên xương mu, đặt bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa trên bàn phẫu thuật, với rốn nằm vị trí bẻ bàn mổ. Tiếp theo, bẻ bàn cong lên một chút, đặt bệnh nhân ở một vị trí Trendelenburg nhẹ.

Phòng ngừa biến chứng

Loại trừ ung thư tuyến tiền liệt trước. Tất cả mọi bệnh nhân phải thử kháng nguyên đặc hiệu (PSA) thăm trực tràng (DRE). Nghi ngờ khi một trong hai phương pháp trên ất thờng thì nên sinh thiết tuyến tiền liệt bằng kim để loại trừ ung thư trước khi mổbóc bướu tiền liệt tuyến.

Phân tích nước tiểu và cấy nước tiểu, điện giải, công thức máu (CBC), đông máu.

Mặc dù siêu âm trực tràng có thể giúp tài liệu kích thước của tuyến tiền liệt, nó không phải là phương pháp làm bắt buộc trước mổ, hoặc giúp sàng lọc trước phẫu thuật cho bệnh ác tính tuyến tiền liệt.

Chẩn đoán hình ảnh của đường tiết niệu trên không được thực hiện thường quy ở bệnh nhân tắc nghẽn đầu ra trừ khi nó được chỉ định vì lý do khác (ví dụ, đánh giá tiểu máu).

Chụp X quang ngực và điện tâm đồ được chỉ định để tầm soát bệnh tiềm ẩn ở những bệnh nhân lớn hơn 60 tuổi.

Soi bàng quang có tác dụng phát hiện hẹp niệu đạo, sỏi bàng quang, túi thừa bàng quang và thùy giữa lớn. Thông tin này là có giá trị khi để lựa chọn thực hiện một trên xương mu hoặc sau xương mu.

Khảo sát niệu động học, tốc độ niệu dòng thấp, ghi nhận lượng nước tiểu tồn lưu, có thể, đo áp lực đồ bàng quang, giữa 2 thông số áp lực và tốc độ dòng chảy ở bệnh nhân để đánh giá những bệnh lý phức tạp hơn cùng tồn tại hoặc chức năng của cơ chóp bàng quang (detrusor).

Nếu thuốc chống đông máu (ví dụ, aspirin, thuốc chống viêm không steroid khác [NSAID], warfarin [Coumadin]) điều trị trước phẫu thuật, khi ngưng phải có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa và kiểm trá chức năng đông máu trước mổ.

Thảo luận về những rủi ro khi mổ với bệnh nhân, trong đó có tiểu không tự chủ, rối loạn chức năng cương dương, xuất tinh ngược dòng, nhiễm trùng đường tiểu, và sự cần thiết phải truyền máu. Ngoài ra, như với tất cả các phẫu thuật chậu mở, nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi luôn luôn tồn tại.

Kỹ thuật mổ

Tổng quan về phẫu thuật

Mổ bóc bướu tiền liệt tuyến là một phương pháp phẫu thuật xâm lấn để điều trị tắc nghẽn do phí đại tiền liệt tuyến không còn khả năng điều trị nội khoa. Bệnh nhân có tiền liệt tuyến cực kỳ lớn hoặc sỏi bàng quang đồng thời hoặc túi thừa là ứng cử viên lý tưởng cho cách tiếp cận này, như các kỹ thuật tối ưu hóa tiếp xúc với toàn bộ tuyến tiền liệt và bàng quang intravesical.

  • Kỹ thuật bóc tiền liệt tuyến sau xương mu (millin)

    Bóc tiền liệt tuyến sau xương mu
Như đã nói trước đây, bệnh nhân được đặt trên bàn mổ tư thế nằm ngửa trong Trendelenburg nhẹ.

Rạch da đường giữa thấp, vào khoang của Retzius.
Xẻ bao tiền liệt tuyến theo chiều ngang ở vùng cổ, bằng cách định vị các cổ, bằng cách sờ nắn bóng Foley.
Khâu 1 mũi 1-0 chỉ tan vào vỏ tiền liệt tuyến, ngay dưới cổ bàng quang. Lặp lại kỹ thuật này cho đến khi một khu vực 4 góc, rạch một đường ngang vỏ tiền liệt tuyến dưới cổ bàng quang, phần bàng quang kéo về phía đầu.
Trước khi xẻ, cầm máu bằng cách khâu tĩnh mạch lưng, khâu động mạch tiền liệt tuyến khi bóc tiền liệt tuyến tại vị trí túi tinh sẻ chảy nhiều máu. Hút tích cực.
Bóc tách tìm giới hạn bướu và vỏ tiền liệt tuyến, đưa tay vào bóc tách bướu dưới tầm nhìn. Cẩn thận xác định mỏm của tuyến tiền liệt và niệu đạo dưới hình trực tiếp.
Khâu cầm máu ở cổ bàng quang và vỏ tiền liệt tuyến ở vị trí 5 – và 7-giờ.
Xác định rõ 2 miệng niệu quản nếu quyết định cắt thùy giữa. Sử dụng khâu liên tục chỉ tan 2-0 , Evert và gần đúng các cạnh.
Indigo, là chất màu chích vào tĩnh mạch phụt ra miệng niệu quản, có thể được dùng để làm giảm nguy cơ tổn thương niệu quản.
Đặt thông niệu đạo và bơm căng bong bóng.
Cuối cùng, đóng vỏ bao tiền liệt tuyến từ cả hai đầu với 2 liên tục 2-0 chỉ tan.
Bóng Foley có thể kéo nhẹ để cầm máu có thể được sử dụng khi cần thiết để cầm máu. Đặt ống dẫn lưu bên ngoài vào khoang Retzius dẫn lưu dịch. Sau đó, rửa và đóng vết thương.
  • Bóc tuyến tiền liệt trên xương mu

Bóc tiền liệt tuyến trên xương mu

Với cách tiếp cận trên xương mu, đặt bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa trên bàn phẫu thuật, với rốn ngay vị trí bẻ bàn. Sau đó, bẻ dãn bàn một chút, đặt bệnh nhân ở một tư thế Trendelenburg nhẹ.

Đặt thông niệu đạo vào bàng quang, bơm bàng quang đầy với khoảng 250 ml nước vô trùng hoặc nước muối trước khi ống thông được lấy ra.

Thực hiện một vết rạch đường giữa theo chiều dọc từ dưới rốn đến trên xương mu. Ngoài ra, cũng có thể rạch Pfannenstiel thấp. Bóc tách cơ thẳng bụng, vào khoang ngoài phúc mạc trước bàng quang.

Không nên bóc tách vùng trước bàng quang hay hai bên bàng quang nhiều. Dưới vị trí bóc tách phúc mạc, khâu 2 mũi chỉ chờ thành trước bàng quang. Mở bàng quang theo chiều thẳng đứng, và thực hiện nó cách cổ bàng quang 1 cm, cho phép quan sát được cổ bàng quang và tuyến tiền liệt. Khâu một mối chỉ ở đầu về phía chân của vết mở bàng quang để phòng ngừa tét vết mổ thêm.
Kéo phần trên vết mở bàng quang về phía đầu và phàn dưới về phía chấn sao cho thấy cổ bàng quang, thấy 2 miệng niệu quản. Xẻ niêm mạc cổ bàng quang sao cho xa tam giác bàng quang.Sau khi xẻ vòng tròn niêm mạc bàng quang trên tuyến tiền liệt, sử dụng dụng cụ sắc nhọn hay tù, bóc tách giữa phần tuyến phì đại và vỏ của tiền liệt tuyến.
Thực hiện bóc tách bằng ngón tay, bóc u xơ khỏi vỏ bao tiền liệt tuyến, hoàn thành việc bóc tách phía sau và theo chu vi xung quanh đỉnh tuyến tiền liệt và niệu đạo.Niệu đạo tiền liệt tuyến được tách ra ở đỉnh bằng cách cẩn thận kẹp 2 ngón tay lại với nhau. Cố gắng hết sức không để xé tuyến tiền liệt hoặc cơ vòng ở vị trí này.
Sau khi khoét toàn bộ, tự kiểm tra hố tuyến tiền liệt và loại bỏ bất kỳ u tuyến sót còn lại.Chảy máu bên trong tuyến tiền liệt có thể được kiểm soát bằng đốt điện hoặc khâu.
Đặt một thông tiểu 22F, 30 ml, 3 chia (ở vài bệnh nhân, có thể làm thêm mở bàng quang ra da).

Đóng bàng quang 2 lớp bằng chromic 2-0 hoặc bằng chỉ Vicryl.
Bơm bong bóng ống thông để ngăn ngừa bong bóng rớt vào hố tuyến tiền liệt, và đặt dẫn lưu vào khoang Retzius.

Phẫu thuật nội soi bóc bướu tuyến tiền liệt bằng robot
Năm 2002, Moreno là người đầu tiên mô tả phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt nội soi đơn giản. Kể từ đó, một số người khác đã mô tả cắt tiền liệt tuyến ngoài phúc mạc. Các kỹ thuật xuyên bàng quang và xuyên qua vỏ (millin) đã được thực hiện bằng nội soi. Hầu hết đều cho rằng nội soi cắt tuyến tiền liệt đơn giản là một lựa chọn khả thi so với các kỹ thuật mở. Tuy nhiên, kỹ thuật này có một đường cong học tập dài và đòi hỏi có tay nghề nội soi vững vàng.Trong năm 2008, Sotelo và cộng sự công bố kinh nghiệm ban đầu của họ với một robot, tuyến tiền liệt đơn giản trên xương mu. Như với trường hợp nội soi khác, trợ giúp robot có thể chứng minh là rất có giá trị và có thể làm tăng sự phổ biến của phương pháp xâm lấn tối thiểu này.

Chăm sóc sau phẫu thuật

Chăm sóc sau phẫu thuật  theo quy trình phẫu thuật lớn. Sự cần thiết phải truyền máu sau phẫu thuật được giảm thiểu nhờ những cải tiến về hiểu biết về giải phẫu phẫu thuật liên quan và tiến bộ trong kỹ thuật phẫu thuật, hầu hết bệnh nhân được xuất viện ngày thứ hai sau phẫu thuật. Đối với các bác sĩ phẫu thuật, quan trọng nhất là quan sát dịch ra ngoài qua ống dẫn lưu, bệnh nhân thường cho ăn chế độ ăn uống vào ngày đầu tiên sau phẫu thuật và tăng dần lên.

Theo dõi bệnh nhân trong bệnh viện sau khi phẫu thuật. Nếu ống thông Foley không rút trong thời gian nằm viện, thì có thể được thực hiện ngoại trú.

Theo dõi kết quả giải phẫu bệnh lý và lịch trình theo dõi cho bệnh nhân để loại trừ ung thư. Nguy cơ tuyến tiền liệt còn lại phát triển bệnh ung thư và bệnh nhân phải được theo dõi bằng DRE và PSA sau đó.

Biến chứng

  • Sau phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt sau và trên xương mu là: xuất huyết, thoát nước tiểu ra ngoài.
  • Nhiễm trùng: viêm bàng quang và viêm mào tinh- tinh hoàn, cũng có thể xảy ra, nhưng hiếm nếu có sử dụng kháng sinh dự phòng.
  • Vì nguy cơ gây tổn thương cơ thắt ngoài cũng thấp, nguy cơ tiểu không kiểm soát là rất hiếm.
  • Rối loạn chức năng cương đồng thời với co cứng cổ bàng quang sau phẫu thuật trong khoảng 2% -3% bệnh nhân sau cắt tuyến tiền liệt trên xương mu.
  • Tùy thuộc vào mức độ tiểu không kiểm soát cấp kỳ có trước phẫu thuật, mà sau phẫu thuật triệu chứng đó có thể kéo dài nhiều tuần hoặc nhiều tháng.
  • Xuất tinh ngược dòng đã được báo cáo trong lên đến 80% -90% bệnh nhân sau khi phẫu thuật và là một hiện tượng phổ biến sau khi các phẫu thuật này. 
  • Cuối cùng, như với bất kỳ phẫu thuật vùng chậu, nguy cơ biến chứng thần kinh, bao gồm cả huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi, nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Tỷ lệ mắc các biến chứng, tuy nhiên, thấp và phản ánh các bệnh đi kèm của các bệnh nhân đang được điều trị.
Theo Emedicine Medscape Urology
——————————————————————————–

Viêm tiền liệt tuyến mãn tính

Viêm tiền liệt tuyến mãn tính (tiếng anh chronic bacterial prostatitis CBP) là bệnh nhiễm trùng tiền liệt tuyến. CBP gây nên những triệu chứng rất phức tạp, tiêu chuẩn chẩn đoán là nhiễm trùng tiểu tái phát, cùng một nguyên nhân gây bệnh. CBP thường lầm lẫn với viêm tiền liệt tuyến không vi trùng (nonbacterial prostatitis), đau vùng chậu mãn tính (chronic pelvic pain syndrome-CPPS), và đau tiền liệt tuyến (prostatodynia)

Theo định nghĩa thì, bệnh lý này có đặc trưng là vi trùng phát triển trong môi trường cấy dịch tiền liệt tuyến, tinh dịch, hoặc nước tiểu sau mát-xa tiền liệt tuyến. Chất tiết tiền liệt tuyến thường chứa hơn 10 bạch cầu (WBC) và đại thực bào.

Triệu chứng của viêm tiền liệt tuyến  rất phức tạp. Chỉ có phân nữa bệnh nhân có triệu chứng có thể chẩn đoán được viêm tiền liệt tuyến. Những triệu chứng phức tạp này chiếm 25% số bệnh nhân khám niệu khoa ở nam giới và chiếm 8% cho tất cả khám niệu khoa nói chung. Thật tế thì viêm tiền liệt tuyến chiếm nhiều hơn phì đại hay ung thư tiền liệt tuyến.

Mặc dù triệu chứng phức tạp của viêm tiền liệt tuyến không phải lúc nào cũng do nhiễm trùng, những lý thuyết truyền thống cho rằng vi trùng là nguyên nhân cần phải điều trị bằng kháng sinh. Điều này giải thích tại sao tới 50% bệnh nhân được điều trị bằng kháng sinh, và chi 5-10% bệnh nhân thật sự nhiễm vi trùng và vì thế điều trị kháng sinh có hiệu quả. Tuy nhiên, cải thiện triệu chứng có thể là do tác dụng giả dược hoặc do tác dụng kháng viêm[1].

Có một yếu tố mâu thuẫn đó là những vi khuẩn khó tính như là Chlamydia trachomatis, Ureaplasma urealyticum, Mycoplasma hominis có thể gây viêm tiền liệt tuyến nhưng không thể mọc trên môi trường cấy thông thường vì vậy nó được hiểu là viêm tiền liệt tuyến không vi trùng. Nhiều nghiên cứu nghiêm túc cho thấy viêm tiền liệt tuyến là do nhiễm trùng hơn trước đây. Như những nghiên cứu phát hiện rRNA của vi khuẩn bằng phản ứng RT-PCR, ủng hộ điều trị viêm tiền liệt tuyến bằng kháng sinh.

Những nghiên cứu tìm nhiễm trùng thể ẩn như là nguyên nhân của hội chứng tiền liệt tuyến có thể  dẫn tới điều trị viêm tiền liệt tuyến hiệu quả hơn. Có những nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ ung thư và viêm tiền liệt tuyến. Những kháng viêm ức chế men cyclooxygenase có thể giảm nguy cơ này.

Phân loại viêm tiền liệt tuyến theo NIH

Dựa trên những nguyên nhân đặc hiệu, the National Institutes of Health (NIH) phân loại viêm tiền liệt tuyến nhiều loại khác nhau trong năm 1995. Loại II  là viêm tiền liệt tuyến mãn tính (CBP), là tâm điểm của bài này.

  • Loại  I: là viêm tiền liệt tuyến có vi trùng cấp, một bệnh nhiễm trùng được chẩn đoán một cách rõ ràng của đường tiết niệu dưới. Đó là một bệnh nhiễm trùng do E coli. Thường có du khuẩn huyết đi kèm
  • Loại III: thường gặp của viêm tiền liệt tuyến (90% các trường hợp), hay CPPS, là loại viêm tiền liệt tuyến mãn tính không do vi trùng ( đau vùng chậu mãn tính do viêm và không do viêm). Chẩn đoán dựa vào EPS, dấu hiệu lâm sàng, và cấy. Khuyến cáo sử dụng kháng sinh thử theo kinh nghiệm (fluoroquinolone or trimethoprim-sulfamethoxazole [TMP-SMZ]).
  • Loại IV là loại viêm tiền liệt tuyến không triệu chứng. Chẩn đoán thường dựa vào sinh thiết, hay từ mẫu của cuộc phẫu thuật, hoặc phân tích tinh dịch hay nguyên nhân khác. Không cần điều trị. Sinh thiết vì tầm soát ung thư tiền liệt tuyến do PSA cao.

Giải phẫu 

Tiền liệt tuyến là tuyến sinh dục phụ, cung cấp khoảng 15% thể tích cho mỗi lần xuất tinh, kích thước trung bình của tiền liệt tuyến là 18 gr và đo lường theo 3 chiều là 3cm, 4cm, và 5 cm. Nằm trong vùng chậu, dưới xương mu, vùng đáy của bàng quang và trên đỉnh của trực tràng.Tiền liệt tuyến được chia làm 3 vùng, trung tâm, chuyển tếp, và vùng ngoại vi. Ba vùng này dính với một vùng cấu trúc tuyến bao xung quanh niệu đạo. Tiền liệt tuyến được bao bọc bởi bao xơ collagen, elastin và cơ trơn.

Tiền liệt tuyến có 70% là cấu trúc tuyến và 30% là vùng mô đêm sợi cơ. Vùng tuyến của tiền liệt tuyến là cấu trúc hình ống và nang, được lót bở biểu mô hình lập phương hoặc hình trụ. Có khoảng 20 tuyến như vậy. Tiền liệt tuyến được chi phối bởi thần kinh giai cảm T-10 tới L-1.

Cơ chế đề kháng tự nhiên của tiền liệt tuyến là sự đitểu, sự phóng tinh, và hiện dện của tinh dịch giàu chất kẽm ó tính cất kháng khuẩn gram âm và dương. Tiền lệt tuyến là cơ quan giàu kẽm nhất trong cơ thể. Đàn ông khoẻ mạnh có lượng kẽm cao trong tiền liệt tuyến, trong khi tiền liệt tuyến vêm thì có ít kẽm. Lý thú là lượng kẽm bằng đường uống không làm tăng kẽm trong tiền liệt tuyến viêm mạn tính.

Spermine và spermidine cũng là chất kháng khuẩn tự nhiên trong tiền liệt tuyến. Làm cho tinh dịch có mùi đặc trưng chống lại vi khuẩn gram dương.

Nguyên nhân 

Tiền liệt tuyến có vị trí giải phẫu học đặc biệt nên nó là nơi nhiễm trùng tái phát. Vùng ngoại vi tiền liệt tuyến có những hệ thống tuyến được dẫn lưu rất kém, hạn chế tống xuất chất tiết ra. Khi tiền liệt tuyến lớn, có những triệu chứng tắt nghẽn nước tiểu trào ngược vào hệ thống ống.

Nước tiểu trào ngược có thể do bệnh lý hẹp niệu đạo. Nước tiểu trào ngược ngay cả vô trùng, cũng có thể gây kích thích hoá học và khởi động quá trình viêm xơ các hệ thống ống và tạo sỏi tiền liệt tuyến, gây tắc nghẽn trong hệ thống ống. Những chất viêm này hình thành nhân để cho nhiễm trùng phát triển. Nhiễm trùng tiền liệt tuyến qua ngã ngược dòng có thể gây viêm tiền liệt tuyến.

Viêm có thể cản trở kháng sinh thấm vào tiền liệt tuyến, và không có cơ chế vận chuyển chủ động kháng sinh vào hệ thống ông tuyến. Vì vậy kháng sinh phụ thuộc vào tấm thụ động vào lớp biểu mô của ống tuyến. tế bào biểu mô không cho phép thấm kháng sinh thụ động ngoại trừ một vài cơ chế như ion hoá, tan trong mỡ, hay kết hợp với protein.

Một yếu tố ức chế vi khuẩn khác là nồng độ acid trong dịch tiền liệt tuyến (pH 6,4) so sánh với pH của huyết tương, vì tế tạo thành một sự chênh lệch nồng độ ức chế sự thấm của kháng sinh acid vào dịch tiền liệt tuyến. Những kháng sinh tốt nhất cho tiền liệt tuyến là những kháng sinh có độ phân ly cao, có tính kiềm thay vì acid, và không kết hợp chặc với protein. Sự kết hợp này cho phép nồng độ kháng sinh 6 lần cao hơn nồng độ trong huyết tương.

Nguyên nhânNguyên nhân gây bệnh của viêm tiền liệt tuyến mãn tính bao gồm:

  • Escherichia coli
  • Klebsiella pneumoniae
  • Pseudomonas aeruginosa
  • Proteus species
  • Staphylococcus species
  • Enterococcus species
  • Trichomonas species
  • Candida species
  • C trachomatis
  • U urealyticum
  • M hominis

E coli chiếm phần lớn 80%, vài trường hợp cũng do C trachomatis, nhưng vi khuẩn này không đóng vai trò quang trọng trong CBP.

Vai trò của vi khuẩn gram dương Staphylococcus epidermitis và S saprophyticus vẫn còn đang bàn cãi. Những vi khuẩn này bình thường có thể phân lập trong niệu đạo trước. Chỉ có những bệnh nhân nào có kết quả cấy lần hai cũng giống như lần đầu mới điều trị kháng sinh ( vì có thể bội nhiễm ).

Triệu chứng

  • Hỏi bệnh sử

Bệnh nhân CBP thường có những than phiền rất mơ hồ. Chỉ có ít bệnh nhân than phiền làm ta phải nghỉ ngay đến viêm tiền liệt tuyến mạn.

Triệu chứng của dường tết niệu sinh dục là đau vùng tầng sinh môn, đau đầu dương vật, đau tinh hoàn, đau trực tràng, đau vùng bụng dưới, và đau lưng. Sốt và lạnh rung không thường gặp lắm

Nhiễm trùng tiểu tái phát sau thời gian  hết bệnh không có triệu chứng là thường hay xảy ra với bệnh nhân. Bệnh nhân có triệu chứng kích thích hay tắt nghẽn, như là tiểu nhiều hay tiểu gấp, tiểu gắt tia nước tiểu yếu, tiểu đêm hay tiểu nhỏ giọt cuối dòng.

Những trệu chứng khác bao gồm dịch niệu đạo ra đục, xuất tinh đau, xuất tinh có máu, hay rối loạn chức năng tình dục.

  • Khám lâm sàng
Viêm tiền liệt tuyến mãn tính. Khám lâm sàng là thăm trực tràng có thể thấy tiền liệt tuyến to mềm đau từ nhẹ đến nặng. Trái lại với viêm tiền liệt tuyến cấp thăm trực tràng sờ vào tiền liệt tuyến có thể rất đau. Trong trường hợp ấp tính không nên mát-xa tiền liệt tuyến vì có thể làm nhiễm trùng huyết. Trong vài trường hợp hiếm khám lâm sàng có thể thấy có sỏi tiền liệt tuyến, tuy nhiên rất khó vì thường nằm sâu trong tiền liệt tuyến.

Cận lâm sàng

EPS, cấy nước tiểu sau mát-xa tiền liệt tuyến, hoặc cấy tinh dịch để có chẩn đoán chính xác CBP.[10] Vi trùng có thể định danh được cũng giống trong trường hợp viêm tiền liệt tuyến cấp tính. Hầu hết do 1 loại vì khuẩn tuy nhiên cũng có tể do nhiều loại vi khuẩn kết hợp, hay vi trùng yếm khí.

Urine culture with greater than 100,000 colony-for
Vì trùng mọc trên 100.000 khúm

Nuôi cấy không cần tiêu chuẩn trên 100.000 khúm vi trùng mới có chẩn đoán. Vì vì vậy chỉ cần điều kiện trùng mọc hơn 10 lần trong EPS hay trong mẫu nước tiểu cuối dòng (VB3) so sánh với nước tiểu đầu dòng (VB1) và nước tiểu giữa dòng (VB2) là quang trọng.

Có nhiều hội chứng viêm tiền liệt tuyến khác nhau dựa vào EPS và cấy. Hệ thống phân loại này quang trọng cho điều trị, điều trị tuỳ theo loại. Hiện diện 10 hay hơn bạch cầu/HPF trong EPS cũng xem như là viêm đáng kể trên lâm sàng.

Nếu chưa chẩn đoán được CBP thì nên chuyển cho bác sĩ chuyên khoa tiết niệu. Nếu có vi khuẩn mãn tính trong nước tiểu thì nên kiểm tra xem có ứ đọng nước tiểu, nhiễm trùng, sỏi, áp-xe có hay không có tắt nghẽn. Cần nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh thêm nữa. Hoặc phải soi bàng quang.

  • Chẩn đoán mô học
A nonspecific, mixed inflammatory infiltrate that
Lympho bào, plasma và histiocytes
Viêm tiền liệt tuyến mãn tính trên kết quả mô học cũng là một chẩn đoán thường gặp sau khi sinh thiết tiền liệt tuyến vì nghi ngờ ung thư. Dấu hiệu là thấm nhuận tế bào lympho từng đám lớn, xen kẻ mô tiền liệt tuyến bình thường. Tuy nhiên không dùng sinh thiết để cẩn đoán bệnh.
  • Soi dưới kính hiển vi

Thông thường chẩn đáon viêm tiền liệt tuyến mãn dựa trên xét nghiệm vi sinh EPS và cấy dương tính sau mát-xa tiền liệt tuyến. Nếu bệnh nhân đang có sốt thì không nên mát-xa tiền liệt tuyến.

Thông thường trên 10 bạch cầu trong mẫu thử EPS ( Loại II trong phân loại NIH ) hoặc bạch cầu đọng lại từng đám có hiện diện thể mỡ hình oval.

Loại III có thể chia làm IIIa và IIIb, dựa trên có nhiều hơn hay ít hơn 10 bạch cầu trên EPS, tương ứng. Tuy nhiên điều trị thì không khác nhau.
Số lượng bạch cầu không là tiêu chuẩn chẩn đoán CBP, bởi vì dấu hiệu này cũng thường thấy ở nhữg bệnh lý không viêm tiền liệt tuyến như viêm niệu đạo, sỏi tiền liệt tuyến, hay gầy đây có xuất tinh.
Dấu hiện trên EPS dựa trên viêm tiền liệt tuyến như sau:
  1. Viêm tiền liệt tuyến mãn (CBP) – có hơn 10 BC/HPF, không giống như thể cấp tính, thể mãn tính nhẹ.
  2. Viêm tiền liệt tuyến cấp tính – không nên làm EPS
  3. Viêm tiền liệt tuyến không do vi trùng – nhiều hơn 10 BC/HPF, nhưgn cấy nước tiểu thông thường không tấy vi khuẩn, nấm, Chlamydia, Ureaplasma, và Mycoplasma hiếm khi phát hiện được
  4. Đau tiền liệt tuyến – Prostatodynia – không có viêm trên mẫu thử EPS hay cấy không thấy vi trùng mọc; đau vùng chậu hay tầng sinh môn
  • Cấy nước tiểu sau mát-xa tiền liệt tuyến
Đây là phương pháp để chẩn đoán CBP. Phương pháp 4 cốc cổ điển Meares-Stameyđể xác định nhiễm trùng tiền liệt tuyến là không thực tế. Phương pháp thực tể hơn là cấy nước tiểu trước và sau khi mát-xa tiền liệt tuyến.[11]  Có thể cấy tinh dịch. Môi trường cấy sau mát-xa có nhiều vi trùng hơn trước mát-xa 10 lần là tiêu chuẩn chẩn đoán CBP. Cách mát -xa tiền liệt tuyến là ừ trước ra sau và từ 2 bên vào giữa trong lúc khám trực tràng. Đôi khi cần phải lâu trong vài phút và mạnh ì vậy nên giải thích cho bệnh nhân. Đôi khi thấy dịch đục ra ở niệu đạo thì cần lấy ngày soi tươi. pH của dịch tiền liệt tuyến có thể tăng từ 6,5 lên 8 nếu có nhiễm trùng.
  • Thử kháng nguyên đặc hiệu tiền liệt tuyến PSA
Thử PSA thường qui không nên làm. Hấu hết bệnh nhân có viêm tiền liệt tuyến có PSA cao àm không phải là ung thư. Bệnh nhân có PSA cao mà nghi do viêm nên thử lại 6-8 tuần sau điều trị thích hợp, để chắc chắn là về bình thường. Nếu vẫn còn cao thì có chỉ định sinh thiết.
  • Xét nghiệm 3 cốc
Xét nhgiệm có tính lịch sử từ rất lâu, Meares and Stamey thực hiện năm 1968. Lâm sàng, xét nghiệm 3 cốc chứng minh có tiết kiệm thời gian phiền toái, vì vậy sử dụng nó đang giảm dần. Vì vậy xét nghiệm lấy nước tểu trước và sau khi mát-xa có hiệu quả hơn nhiều.
Magri và cs thực hiện nghiên cứu hồi cứu cấy tinh dịch thấy nó có hiệu quả hơn nhiều.[13] Tuy nhiên, cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để khẳng định điều này. Xét nghiệm 3 côc thực hiện khi nước tiểu trong bàng quang vô trùng. Nếu nước tểu trong bàng quang không vô trùng, kháng sinh đường uống như nitrofurantoin có thể cho làm sạch vi trùng trong bàng quang. Nó đạt nồng độ lý tưởng trong bàng quang, nhưng không thấm vào tiền liệt tuyến.
  • Siêu âm qua ngã trực tràng

Rất có ích trong vệc chẩn đoán áp-xe tiền liệt tuyến. Áp-xe rất hiếm, nhưng nếu có thì bệnh nhân thường rất yếu, mệt mỏi sốt lạnh run và đau. Nếu không có siêu âm qua trực tràng có thể sử dụng CT scan hay MRI thay thế. Siêu âm cũng có thể thấy được sỏi trong tiền liệt tuyến. Ở bệnh nhân có bệnh thường hay tái phát thì nững sỏi trong tiền liệt tuyến có thể à nguồn vi trùng làm cho bệnh tái phát.

Điều trị

Điều trị chủ yếu là kháng sinh, sử dụng kháng sinh đường uống. Kháng sinh hiệu quả nhất là fluoroquinolones và TMP-SMZ. Cách kháng sinh khác điều không hiệu quả vì chúng không thể thấm vào tiền liệt tuyến tối ưu. Sử dụng kháng sinh nên kéo dài, thường hay tái phát.

Nếu mát-xa tiền liệt tuyến cho kết quả dương tính thì điều trị thường có kết quả. Vì vấn đề là không thể thu được vi trùng gây bệnh một cách hiệu quả cho nên sử dụng kháng sinh thử là được chấp nhận.

Những nghiên cứu chứng tỏ có hiện diện của vi khuẩn cao cấp như RT-PCR assay trong lúc kết quả cấy âm tính. Kết quả cấy âm tính cũng có thể có nhiều lý do, mẫu bệnh phẩm ít, sử dụng kháng sinh trước đó, hay nhiễm những vi trùng khó chịu. Trong những trường hợp như vậy điều trị kháng sinh thường cho kết quả cải thiện.

Phải điều tra xem bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao không? như có nhiều bạn tình, quan hệ hậu môn không bảo vệ và có nhiễm bệnh lây qua đường tình dục. Nếu có nghi ngờ thử điều trị với kháng sinh trong 2 tuần. Nếu triệu chứng cải thiện thì điều trị tiếp kháng sinh. Bởi vì đây không phải là nhiễm trùng cấp tính, nên điều trị kháng sinh và ức chế alpha giảm đau kháng viêm cho tới khi có kết quả kháng sinh đồ. Tắm trong bồn nước ấm cũng cải thiện triệu chứng đang kể.

Phẫu thuật thường không chỉ định cho viêm tiền liệt tuyến mạn tính. Tuy nhiên, trong trường hợp tái phát nhiều thì nên cắt tiền liệt tuyến nội soi hay bốc hơi bằng laser để lấy đi nhân làm cho tái phát. Những nhân (nidus) này là những sỏi tiền liệt tuyến có thể thấy bằng siêu âm.

  • Điều trị bằng kháng sinh

Lựa chọn điều trị kháng sinh là chủ yếu bởi vì tiền liệt tuyến có lớp tế bào biểu mô lót và chệnh lệch pH. Kháng sinh tốt nhất phải có hằng số phân ly cao cho phép thấm vào mô tiền liệt tuyến, để có nồng độ cao hơn huyết tương. Kháng sinh phải dựa vào kháng sinh đồ nước tiểu. nếu đợt kháng sinh đầu ( 4 tuần) thất bại thì nên kéo dài hơn. Kết quả tốt nhất có thể thấy sau 12 tuần, mặc dù bệnh nhân thường than phiên về quá trình điều trị kéo dài như vậy.

Kháng sinh tốt nhất là TMP-SMZ liều 80-400 mg 2 lần ngày và fluoroquinolone (như, ciprofloxacin liều 500 mg hoặc ofloxacin liều 400 mg) cho 2 lần ngày hoặc gatifloxacin/moxifloxacin liều 400 mg ngày. TMP-SMZ đạt 33-50% chữa khỏi với thời gian điều trị 4- to 6-tuần. fluoroquinolones cũng có tỷ lệt tương tự khi điều trị 4 tuần.

TMP-SMZ rẻ hơn, tuy nhiên nên chọn fluoroquiolone nếu bệnh nhân trẻ hơn 35 tuổi đang hoạt động tình dục hay có nhiều bạn tình bởi vì nó có tác dụng chống lại cả hay lậu cầu và Chlamydiae

Fluoroquinolone chống lại nhóm Enterobacteriaceae và cả P aeruginosa. (tuy nhiên, không diệt được streptococci, enterococci, và kị khí anaerobes.)

khi không hiệu quả với kháng sinh uống thì nên sử dụng carbenicillin hay doxycycline hoặc tiêm gentamicin, tiêm mạch hay tiêm thẳng vào tiền liệt tuyến. Carbenicillin cũng hiệu quả đối với Enterobacteriaceae hay Pseudomonas.

Khi bệnh nhân tái phát nhiều lần có thể sử dụng kháng sinh liều thấp kéo dài (suppressive therapy) sau 1 đợt điều trị kháng sinh đặc hiệu, như tetracycline, nitrofurantoin, nalidixic acid, cephalexin, và trimethoprim. Vi trùng gây viêm tiền liệt tuyến mạn thường nhạy kháng sinh.

Trong những phân tích meta thấy viêm tiền liệt tuyến mạn hay đau vùng chậu mạn tính, kết hợp với ức chế thụ thể alpha cho kết quả tốt hơn so với giả dược. kết hợp kháng viêm thì ít hơn hơn cũng có lợi cho bệnh nhân.[14]

Sỏi tiền liệt tuyến gây nhiễm trùng tái phát không điều trị với kháng sinh được. Nên đôi khi phải phẫu thuật cắt đốt nội soi.[15] Tuy nhiên cần phải nghiên cứu thêm.

  • Điều trị thuốc khác

Điều trị kháng viêm nonsteroidal anti-inflammatory drugs (NSAIDs) và alpha blockers (như, terazosin liều 1-10 mg, doxazosin liều 1-8 mg) giúp cải thiện triệu chứng. Alpha blocker giúp giảm tái phát vì làm thông thoáng đường tiểu. Saw palmetto, một loại thảo dược điều trị bướu lành tiền liệt tuyến cũng nên sử dụng.[16] . Finasteride, ức chế 5-alpha-reductase, cũng có hiệu quả trong giảm triệu chứng. Trà xanh, củ hành, cam cũng có thể giảm triệu chứng.

Vai trò của xuất tinh trong điều trị không rõ, có một lý thuyết cho rằng xuất tinh thường xuyên làm thông thoáng các tuyến trong tiền liệt tuyến. Hướng dẫn bệnh nhân xuất tinh mỗi 3 ngày, hoặc qua quan hệ tình dục hoặc thủ dâm trong khi vẫn dùng kháng sinh có thể có hiệu quả.

Tắm ngâm mình trong bồn nước ấm hay mát-xa vùng tầng sinh môn có thể giúp giảm triệu chứng. hay thường xuyên mát-xa tiền liệt tuyến cũng có thể giúp ích. Cũng có thể bổ sung kẽm, nhưng lâm sàng chứng minh không có ích lợi.

Chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến

Ung thư tiền liệt tuyến là bệnh ung thư thường gặp ở nam giới, thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng. Mặc dù ung thư phát triễn rất chậm, tuy vậy ung thư này cũng gây tử vong 10% trong các trường hợp tử vong vì ung thư, hàng ngàn người chết vì bệnh này mỗi năm.

Phẫu thuật cắt tiền liệt tuyến toàn phần qua ngã tầng sinh môn

Những nghiên cứu bàn đầu về giải phẫu học và đường tiếp cận tiền liệt tuyến qua ngã tầng sinh môn được thực hiện bởi các nhà phẫu thuật Đức vào cuối năm 1800. Trong năm, 1867 Billroth thực hiện cắt tiền liệt tuyến qua tầng sinh môn đầu tiên.

Bướu lành tiền liệt tuyến

Bướu lành tiền liệt tuyến (còn được gọi tắt là BPH theo tiếng Anh), phì đại nhiếp tuyến hay phì đại lành tính tuyến tiền liệt là một sự tăng kích thước của tuyến tiền liệt ở nam giới trung niên và cao niên. Trong u xơ tiền liệt tuyến, tuyến tiền liệt tăng kích thước và ép vào niệu đạo và bàng quang, gây khó khăn cho tiểu tiện. Nó gây nên triệu chứng tiểu ngập ngừng, tiểu nhiều lần, tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu và tiểu khó. Có rất ít mối liên hệ giữa các triệu chứng của u xơ tiền liệt tuyến với ung thư tuyến tiền liệt.

Điều trị ung thư tiền liệt tuyến

Có nhiều cách thức điều trị ung thư tiền liệt tuyến. Ung thư có độ ác tính thấp gặp ở người già thường gặp lại thường phát triễn rất chậm. Donald Gleason người phát minh ra thang điểm Gleason score, thừa nhận “ung thư” tiền liệt tuyến có độ Gleason 3+3 là rất phổ biến và nó là prostate adenosis ( một loại bướu lành), bởi vì ông ta tin rằng nó thường không hại bệnh nhân. Vì thế điều trị là không cần thiết trong khi bệnh nhân có nhiều bệnh lý nguy hiểm khác kết hợp, chết vì những bệnh đó trước khi những triệu chứng của ung thư tiền liệt tuyến xuất hiện.