Bệnh dương vật bị chôn vùi

Có vài hệ thống phân loại tình trạng này, mặc dù không có hình thức nào được chấp nhận mức độ toàn cầu. Maizels và cs (1986) phân biệt những từ ngữ che khuất (concealed, gặp trước khi cắt da quy đầu), bị mắc kẹt (trapped, sẹo sau khi cắt da quy đầu), và chôn vùi (buried, trẻ lớn và béo phì).
Continue reading “Bệnh dương vật bị chôn vùi”

Bệnh cương cứng kéo dài

Cương cứng kéo dài là tình trạng cương kéo dài, nhưng đau, cương cứng như vậy nhưng không vì lý do ham muốn tình dục. Đây là một cấp cứu niệu khoa có thể dẫn đến rối loạn cương vĩnh viễn, hoại tử dương vật nếu không điều trị. Cương cứng kéo dài thường vô căng, nhưng đôi khi cũng do những bệnh lý có sẵn của bệnh nhân, hay do sử dụng thuốc.

Continue reading “Bệnh cương cứng kéo dài”

Bệnh dương vật nhỏ

Dương vật nhỏ ( Tiếng Anh micropenis ) là kích thước dương vật đo từ đầu cho đến gốc khi dương vật khi cương cứng nhỏ hơn kích thước dương vật trung bình, hay nhỏ hơn 7 cm ở người lớn khi so sánh với kích thước dương vật trung bình là 12,5 cm. Ở trẻ sơ sinh kích thước dương vật trung bình là 2,8-4,2 cm khi kéo dãn ra, nếu nhỏ hơn 1,9cm thì xem như là dv nhỏ.

Continue reading “Bệnh dương vật nhỏ”

Hỏi – Đáp: Rối loạn chức năng tình dục nam

Giải phẫu của dương vật ?
Phần lưng của dương vật chứa 2 thể  cương đó là 2 thể hang, mỗi thể hang có ộng mạch thể hang trung tâm có nhiệm vụ làm cho dương vật cương lên. Ở  phần bụng của dương vật ũng ó duy nất 1 tể cương đó là thể xốp. Mỗi thể hang có một màng bao xơ gọi là tunica albuginea

Continue reading “Hỏi – Đáp: Rối loạn chức năng tình dục nam”

Viêm quy đầu xơ tắt – BXO

Viêm quy đầu xơ tắt – Balanitis xerotica obliterans là bệnh da của cơ quan sinh dục nam. Được mô tả lần đầu tiên vào năm 1928 bởi Stuhmer, mặc dù cũng có báo cáo sớm hơn bệnh lý cũng tương tự. BXO là bệnh vùng quy đầu và da quy đầu dương vật. Những mảng xơ chai trắng ở vùng quy đầu, và có vòng trắng phù nề cứng gần đỉnh quy đầu làm cho da không tuột xuống được.

Continue reading “Viêm quy đầu xơ tắt – BXO”

Bệnh da không ác tính của cơ quan sinh dục nam

Condyloma acuminata (Image courtesy of Hon Pak, MDTổn thương da không ác tính của cơ quan sinh dục, là bệnh lý ngoài da nhà tiết niệu học thường thấy nhất. Hầu hết các bệnh này, chẩn đoán có thể chắc chắn bằng cách khám lâm sàng và bệnh sử, nhưng, trong vài trường hợp, cần phải sinh thiết. Bài này nói về bệnh ngoài da không đặc hiệu cho cơ quan sinh dục mà có thể gặp bất kỳ vùng nào của cơ thể.   

Bệnh Peyronie

Bệnh Peyronie (PD) là tình trạng viêm mạn tính của bao trắng thể hang dương vật, gây tình trạng rối loạn mô liên kết dẫn đến phát triển mảng xơ cứng ở dương vật, chiếm tỷ lệ 10% nam giới. Bao trắng là bao xơ bao bọc thể hang, dầy lên gây đau, cong bất thường dương vật, rối loạn cương, ngắn dương vật.

Khám lâm sàng

Bệnh sử của bệnh PD rất thay đổi. tiến trình bệnh lý có thể xảy ra vài năm. Nếu mảng xơ bị can-xi hoá, thì sự gập góc của dương vật sẽ rõ ràng hơn. Trong thời kỳ ban đầu mô tả là bệnh có thể tự khỏi. Tuy nhiên điều này không chính xác. Trong năm 1990, Gelbard và cs thấy những mảng này hết hoàn toàn không cần điều trị có trong 13% bệnh nhân, trong khi 40% mô tả là bệnh ngày càng tiến triển và 47% thấy là không có thay đổi gì. Vì vậy nên can thiệp để phục hồi chứ năng tình dục. Devine và cs đề nghị điều trị nội khoa sớm thì khả năng thành công cao.

Bệnh nhân có PD có đau dương vật (1), chủ yếu khi cương; (2) gập góc dương vật, cũng khi cương cũng có thể thấy khi xìu; (3) mảng xơ có thể sờ thấy ngay vị trí gập góc; (4) có sự lõm vào ở thân dương vật ngay vị trí mảng; và (5) giảm chức năng cương cứng dương vật.

Đau dương vật có thể điều trị nội khỏi vì vậy điều này gây bàn cãi có thể sử dụng như là tiêu chuẩn hết bệnh không. Vài bệnh nhân thấy là có da9u dương vật trước khi có cong hay có mảng xơ.

Về mặt thực hành có thể chia ra làm PD cấp hay mãn tính. Gai đoạn cấp tính có thể kéo dài 18-24 tháng thay đổi thành phần viêm có triệu chứng đau dương vật, cong nhẹ hay có nốt bất thường. Giai đoạn mãn tính thường có mảng xơ cố định dương vật gập góc, không cương cứng.

Điều trị

Không điều trị, khoảng 30-40% bệnh nhân sẽ tự khỏi theo thời gian, 40-50% sẽ nặng nề thêm và còn lại sẽ ổn định tương đối.

Thuốc và chất bổ sung

Rất nhiều điều trị bằng thuốc uống đang được nghiên cứu, nhưng kết quả thì rất khác nhau. Một vài tác giả xem phương pháp không phẫu thuật là còn đang bàn cãi.

Vitamin E được nghiên cứu trong nhiều thập niên, và một vài thành công được báo cáo trong những thử nghiệm cũ, nhưng những thành công này không được lập lại khi nghiên cứu số lượng lớn hơn, nghiên cứu mới hơn. Một sự kết hợp Vitamin E và cochicine cũng chứng minh tính hiệu quả trong sự làm chậm đi sự tiến triển của bệnh.

Một vài thuốc mới tấn công vào cơ chế gây viêm, như là para-aminobenzoate (Potaba), pentoxifylline (hoạt động thông qua ức chế TGFβ1 ), và Coenzyme Q10 .  những chất mới hơn bao gồm acetyl L-carnitine, propionyl L-carnitine, L-arginine, and sildenafil (hoạt động thông qua ức chế men phosphodiesterase-5 )

Hiệu quả của Interferon-anpha-2b trong giai đoạn sớm của bệnh cũng được báo cáo gần đây trong những nghiên cứu, tuy nhiên ít hiệu quả khi mảng xơ hóa vôi.

Hay công thức superoxide dismutase cũng được báo cáo trong điều trị. Hay tiêm thẳng vào plaque bằng Verapamil cũng hiệu quả trong vài bệnh nhân, nhưng gần đây nghiên cứu đối chứng với placebo thấy không có tác dụng. Sử dụng iontophoresis với Verapamil và Dexamethasone bội vào plaque cũng có tác dụng, nhưng nghiên cứu với pacebo thì thấy không hiệu quả. Kem Verapamil dùng để thay thế loại tiêm chích.

Collagenase clostridium histolyticum 9 tên thị trường Xiaflex by Auxilium), là một thuốc chấp nhận bởi FDA để điều trị bệnh co cứng Dupuytren, cũng có tác dụng phân hủy collagen gây bệnh trong bệnh Peyronie. Thuốc này chưa được chấp nhận bởi FDA