Bệnh lây qua đường tình dục

Bệnh lây qua đường tình dục ( tiếng anh sexually transmitted disease, STD hay sexually transmitted infections STI hay venereal diseases VD), là những bệnh có khả năng lây lan rất cao giữa người và người qua hành vi tình dục, bao gồm giao hợp qua âm đạo, tình dục bằng miệng, và tình dục qua hậu môn. Trong quá khứ là bệnh lây qua đường tình dục, hay bệnh hoa liễu nhưng ngày nay người ta dùng từ “những nhiễm trùng lây qua đường tình dục.”

Ung thư bàng quang

Ung thư bàng quang ( Tiếng anh: Bladder cancer ) là một loại bệnh lý ác tính xuất phát từ niêm mạc của đường tiết niệu (niệu mạc) của bàng quang. Ung thư bàng quang hiếm hơn là loại không có nguồn gốc từ niệu mạc như là lymphoma, hay sarcoma, nhưng chúng không thường được gọi là ung thư bàng quang. Nó là một bệnh những tế bao lớn lên mà không kiểm soát được. Kiểu mô học thường gặp gọi là ung thư bàng quang là ung thư tế bào chuyển tiếp. Ước tính có 383.000 ung thư trên toàn thế giới.

Continue reading “Ung thư bàng quang”

Điều trị ung thư tiền liệt tuyến

Có nhiều cách thức điều trị ung thư tiền liệt tuyến. Ung thư có độ ác tính thấp gặp ở người già thường gặp lại thường phát triễn rất chậm. Donald Gleason người phát minh ra thang điểm Gleason score, thừa nhận “ung thư” tiền liệt tuyến có độ Gleason 3+3 là rất phổ biến và nó là prostate adenosis ( một loại bướu lành), bởi vì ông ta tin rằng nó thường không hại bệnh nhân. Vì thế điều trị là không cần thiết trong khi bệnh nhân có nhiều bệnh lý nguy hiểm khác kết hợp, chết vì những bệnh đó trước khi những triệu chứng của ung thư tiền liệt tuyến xuất hiện.

Liệu pháp hormon ngắt quản là điều trị hợp lý trong ung thư tuyến tiền liệt

Hello. Tôi là bác sĩ Gerald Chodak làm việc cho Medscape. Chủ đề của ngày hôm nay là liệu pháp hormone ngắt quản cho người đàn ông với một kháng nguyên tuyến tiền liệt (PSA) tăng sau khi xạ trị. Nó được dựa trên một nghiên cứu lớn tiền cứu ngẫu nhiên, bởi Crook và các cộng sự đã được công bố trên Tạp chí Y học New England. Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu hơn 1300 đàn ông có PSA trên 3 ng / mL và đã hoàn thành xạ trị ở ít nhất 1 năm trước khi ghi danh vào thử nghiệm. Bệnh nhân điều trị ngắt quản nhận được 8 tháng điều trị hormone liên tục sau đó dừng lại nếu họ đáp ứng các tiêu chí nhất định. Liệu pháp hormon đã được khởi động lại nếu mức độ PSA đạt 10 ng / mL.

Kết quả cho thấy rằng điều trị ngắt quản không thua kém điều trị hoc-mon liên tục về sống sót hay sự sống còn tổng thể ung thư tuyến tiền liệt. Có sự khác biệt nhỏ trong 2 nhóm này, nhưng họ không có ý nghĩa. Ưu điểm của điều trị ngắt quản ít biến chứng hơn như các cơn nóng bừng, chúc năng tình dục được cải thiện, và ít có triệu chứng bvề tiết niệu hơn, mặc dù các tác giả đã thấy rằng hầu hết những người đàn ông trên 75 tuổi không lấy lại chức năng tình dục của họ ngay cả khi không còn điều trị. 

Nghiên cứu này là quan trọng vì nhiều lý do. Đầu tiên, nó cung cấp thêm thông tin hướng dẫn cho bệnh nhân có PSA tăng lên sau khi xạ trị là phải điều trị tiếp bằng hormone. Nhiều người đàn ông đang phải đối mặt với giai đoạn này rất lâu, trong thời gian đó họ phải chịu đựng những tác dụng phụ cộng với các chi phí cao. Nghiên cứu này cho thấy rằng bạn có thể thưởng thức một cách đáng kể kỳ điều trị bằng cách giám sát mức độ testosterone và mức độ PSA, và bạn có thể làm điều đó mà không ảnh hưởng hoặc nguy hiểm đáng kể tỷ lệ sống còn. Do đó, những người đàn ông đi trên liệu pháp hormone sau khi xạ trị cho một PSA tăng nên được thông báo về những kết quả và đưa ra sự lựa chọn để quyết định xem họ muốn ngừng điều trị hoặc tiếp tục càng lâu càng tốt. Thời gian sống trung bình trong dân số này là khoảng 9 năm, do đó, những người đàn ông đang phải đối mặt với liệu pháp hormone có thể làm nó trong một thời gian dài của thời gian. Nghiên cứu không tìm thấy một nguy cơ gia tăng bệnh tim cho người đàn ông trên tiếp tục điều trị, và nó đã không được đánh giá lý do tại sao có nhẹ nguy cơ tử vong cao do các nguyên nhân khác. 
Đây là một nghiên cứu được thực hiện tốt, và nó đi cùng với một nghiên cứu khác cũng thực hiện [2] trên người đàn ông bị bệnh di căn cũng cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong tỷ lệ sống còn tổng thể, mặc dù người đàn ông điều trị liên tục trong nghiên cứu có nguy cơ cao hơn một chút tử vong do ung thư tuyến tiền liệt và có nguy cơ thấp hơn một chút tử vong do các nguyên nhân khác. Nhiều người đang cố gắng giải thích các kết quả, đặc biệt là hướng dẫn bệnh nhân những chất hormon khác hơn là bỏ điều trị. Thời gian sẽ cho biết làm thế nào chúng ta giải thích những kết quả này. Để bây giờ,  hormon liệu phát ngắt quản là một lựa chọn hợp lý cho những người đàn ông có một PSA tăng sau khi xạ trị. Tôi mong ý kiến của bạn. Cảm ơn bạn.
BS.Phan Văn Hoàng theo Medscape Urology

Viagra có thể phòng ngừa rối loạn cương ở người bị xạ trị

BOSTON, Massachusetts – Sildenafil citrate  ( Viagra ) có tể có vai trò phòng ngừa rối loạn cương ở những bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến bị xạ trị. Trong nghiên cứu tiền cứu về vai trò phòng ngừa của sildenafil có thể phòng ngừa rối loạn cương so với placebo trong vòng 2 năm
Mất sự cương cứng hoàn toàn sau xạ trị chiếm 30-60% bệnh nhân xạ trị ung thư tuyến tiền liệt, bác sĩ Michael J Zelefsky, nói trong hội nghị Hội ung thư học xạ trị Hoa kỳ ( ASTRO) lần thứ 54. Ông ấy làm việc tại Memorial Sloan-Kettering Cancer Center New York.
Trong thực hành lâm sàng, sildenafil và những thuốc chống rối loạn cương khác giúp cho bệnh nhân đạt độ cương lại trong 60-70 % các trường hợp, trong đó rối loạn cương do xạ trị. Nhưng điều trị cũng có thể bắt đầu khi bệnh nhân có triệu chứng.
Trong nghiên cứu có kiểm soát với nhóm chứng, sildenafil được cho uống trước, trong khi, và sau khi xạ trị. Một viên một ngày trong 6 tháng. Và người bệnh nhân có thể yêu cầu bất cứ khi nào họ muốn (không biết thuốc nào là sildenafil và giả được).
Tất cả những người tham gia có chức năng tình dục nền tuyệt vời, BS Zelefsky báo cáo.
Trong 144 bệnh nhân, trong những thang điểm tình dục được báo cáo ( được đo bằng thang điểm International Index of Erectile Function [IIEF]) thấy trong nhóm có sildenafil cao hơn nhóm placebo trong 6 tháng ( 58.6 so với 49.9; p=0.006), 12 tháng ( 56,3 so với 48,2; p=0,02) và 24 tháng ( 54,9 so với 47; p=0,04) sau điều trị.
BS. Phan Văn Hoàng  Theo Medscape Urology

Ung thư tinh hoàn

Ung thư tinh hoàn ( tiếng anh testicular cancer ) làm ung thư của tinh hoàn, là một thành phần trong cơ quan sinh dục nam. Ở Hoa kỳ, khoảng 7500 và 8000 trường hợp ung thư tinh hoàn mới được chẩn đoán hàng năm. Ở Anh, 200 trường hợp mới mỗi năm. Trong suốt đời sống của người đàn ông nguy cơ ung thư tinh hoàn khoảng 1 trong 250 (0,4%).

Hội niệu khoa Hoa kỳ: cập nhật hướng dẫn về niệu động học

Hội niệu khoa Hoa kỳ ( AUA ) vừa xuất bản hướng dẫn lâm sàng dựa trên y học thực chứng về xét nghiệm niệu động học. Hướng dẫn này giúp các nhà lâm sàng khi điều trị bệnh nhân liên kết được xét niệu động học với triệu chứng của đường tiểu dưới.
Continue reading “Hội niệu khoa Hoa kỳ: cập nhật hướng dẫn về niệu động học”

Mãn dục nam

Mãn dục nam ( tiếng Anh Andropause hay male menopause ) là tình trạng hay gặp ở người nam giới có tuổi giống như mãn kinh nữ. Mãn dục nam là quá trình giảm tiết testosteron và dehydroepiandrosteron dần dần ở tuổi trung niên, và hậu quả là giảm sản xuất, thường kết hợp với giảm tế bào Leydig. Sự giảm dần dần testosteron khi lớn tuổi đã được ghi nhận.
Không giống như từ mãn kinh nữ, từ mãn dục nam giới chưa được công nhận bởi tổ chức y tế thế giới, WHO, trong khi có từ khác thường hay sử dụng là thiểu năng sinh dục, trong đó nồng độ testosteron giảm dưới mức bình thường.
Như là một trạng thái
Ảnh hưởng của mức độ testosteron đã được báo cáo trước đây. Trong năm 1944, Heller và Myers xác định những triệu chứng gọi là tuổi xế chiều của nam giới như là mất libio, lo lắng, trầm cảm, giảm trí nhớ, không có khả năgn tập trung, mệt mỏi, mất ngủ, cơn đỏ bừng mặt, và hay đổ mồ hôi.  Hai ông cũng thấy rằng trong những bệnh nhân của hai ông có mức độ testosteron thấp, và triệu chứng giảm đáng kể khi mà có bổ sung testosteron.
Mãn dục nam cũng có thể thấy ở bệnh nhân Alzheimer
Trong một nghiên cứu, 98 % những bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu tin rằng mãn dục nam và nguy cơ loãng xương có liên quan với nhau
Từ ngữ “suy tuyến sinh dục nam khởi phát muộn có triệu chứng” ( symtomatic late onset hypogonadism, SLOH ) được xem như giống với mãn dục nam, phản ánh một cách chính xác hơn sự mất sự sản xuất testosteron thường kèm với mãn dục nam. Từ “D” trong tiếng anh được đề cập trong y văn là giảm hơn là suy. Trong một vài tình huống, người ta sử dụng ” suy hoc-mon nam từng phần ở người đàn ông lớn tuổi” (PADAM) 
Như là một rối loạn
  • Người ủng hộ 
Người ủng hộ quan điểm cho rằng mãn dục nam là một bệnh lý lý lẽ rằng, mãn dục nam là quá trình sinh học ở tuổi trung niên bình thường giống như phụ nữ. Tuy nhiên ở nữ là quá trình ngưng hoàn toàn quá trình sinh sản, mãn dục nam là chỉ giảm testosteron. Sự giảm này dẫn đến mất năng lượng, mất khả năng tập trung, hay thay đổi hành vi. Trong khi đó mãn dục nam không làm cho cơ quan sinh sản nam ngưng lại. Mãn dục nam gây ra bởi giảm dần dần testosteron và tăng sex hormone-binding globulin ( SHBG) xả ra từ năm 35 tuổi. Ngược lại phụ nữ quá trình tương tự giảm nhanh ở tuổi trung bình 51. Testosteron giảm mỗi thập niêm 10% sau 30 tuổi (1%) mỗi năm. Mãn dục nam xảy ra sớm ở người nam trong môi trường tiếp xúc nhiều estrogen. Nam giới làm việc trong nhà máy dược phẩm, nhựa, hay trên đồng sử dụng nhiều thuốc trừ sâu.
Vào giữa năm 50, khoảng 30% đàn ông có mãn dục nam. Khoảng 5 triệu người Mỹ không tạo ra đủ testosteron, gây mãn dục nam. Ở Úc, khoảng 1 trong 200 đàn ông dưới 60 tuổi và khoảng 1 trong 10 đàn ông trên 60 tuổi có testosteron thấp. Không quan tâm tới địa dư, mãn dục nam có liên quan tới tiểu đường, cao huyết áp và bất thường về di truyền gây suy thuyến sinh dục, bao gồm Klinefelter, Wilson -Turner, và hội chứng không nhạy cảm androgen.  
Một vài sự hứng thú trong ý tưởng mãn dục nam đã được thúc đẩy bới cuốn sách “Mãn dục nam” của tác giả Jed Diamond. Theo quan quan điểm Diamond, mãn dục nam là sự thay đổi ở người nam trung niên, bao gồm thay đổi hoc-mon, hình thể, tâm lý, mối quan hệ, xã hội, tình dục và tâm lý. Diamond  cho rằng những thay đổi này xảy ra tất cả đàn ông, thông thường giữa 40 và 55, mặc dù có thể xảy ra sớm từ 35 và 65. Từ mãn dục nam có thể là đặt nhầm tên, vì không giống như phụ nữ, vì khả năng sinh sản nam không ngưng sau tuổi trung niên mà có thể có con cái cho tới 90 tuổi hay già hơn. Nhưng Diamond cũng chỉ ra rằng về phương diện cuộc sống 2 quá trình của nam và nữ là giống nhau. Vì thế từ mãn dục nam được chấp nhận rộng rãy ở Úc châu hay Âu châu hơn à Hoa kỳ. 
  • Người chống đối
Nhiều nhà lâm sàng tin rằng, mãn dục nam không là một ý tưởng đúng đắng. vì đàn ông có thể sinh con tới tuổi già. Hoc-mon của họ giảm từ từ chứ không như phụ nữ tuổi mãn kinh. Trong vài đàn ông trước tuổi 60 mất libido, rối loạn cương dương, và không có khả năng đạt cực khoái. 
Một vài người khác cho là mãn dục nam tương đương suy tuyến sinh dục hay giảm testosteron. Cũng có những ý kiến chống đối tư tưởng mãn dục nam ở Âu châu cũng như Hoa kỳ.
Vài nhà lâm sàng cũng có ý kiến là những triệu chứng nhưng kể trên cảnh báo có gì thay đổi đang xảy ra. Chẳng hạn người thừa cân có thể làm người ta sai lầm tưởng là một bệnh nhưng thật ra nó là một trạng thái. Giống gnhư thế, năng lượng cũng có thể khác nhau giữa người này so với người kia, và vài người không hoạt động lắm.
Trong khi trái lại vài người khỏe mạnh năng động cũng có thể có những triệu chứng giống như mãn dục nam. Hay yếu tố môi trường, di truyền, lối sống ảnh hưởng như thế nào đến mãn dục nam cũng chưa biết rõ.      
Điều trị
Mặc dù có bất đồng trên việc mãn dục nam có phải là bệnh không để mà chẩn đoán hay điều trị. 
  • Morley nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đáp ứng điều trị, cũng như mức độ testosteron và những triệu chứng. 
  • Mintz, Dotson và Mukai nhấn mạnh hocmon hơn là testosteron, họ cũng nhấn mạnh vài trò của chế độ ăn và tập luyện
  • Diamond nhấn mạnh trâm cảm là vấn đề quan trọng nhất của đàn ông tuổi trung niên, và thường bỏ qua và thường kết hợp với những hậu quả nghiêm trọng.
Những điều trị sau đây chứng tỏ có hiệu quả. 
  • Liệu pháp thay thế hoc-mon
  • Tập thể dục, chế độ ăn, giảm stress.

Xuất tinh sớm

Xuất tinh sớm ( Tiếng Anh, Premature ejaculation ) là tình trạng người đàn ông xuất tinh sớm hơn anh ta hoặc bạn tình anh ta mong muốn. Rất nhiều từ ngữ Tiếng anh chi tình trạng này như là  rapid ejaculation (xuất tinh nhanh), rapid climax ( đạt cực khoái sớm ), premature climax, or early ejaculation. Masters và Johnson định nghĩa là xuất tinh sớm khi mà người đàn ông xuất tinh trước khi người bạn tình của anh ta đạt cực khoái, trong hơn 50% lần giao hợp với nhau. Định nghĩa thường nhất đó là khi đàn ông xuất dưới 2 phút khi đưa vào; tuy nhiên, theo một khảo sát của Alfred Kinsey trong năm 1940 thấy rằng khoảng 3/4 đàn ông xuất tinh khi đưa vào trong vòng 2 phút trong hơn 50% số lần quan hệ. Xuất tinh sớm có thể chia làm hai dạng. Tiên phát, là xuất hiện khi người đàn ông bắt đầu dậy thì. Thứ phát xuất hiện trễ hơn. Có thể chia theo dạng khác, luôn luôn xuất tinh sớm, là xuất tinh sớm với mọi bạn tình hoặc mọi hoàn cảnh; hay xuất tinh sớm thi thoảng, chỉ xảy ra trong vài tình huống đặc biệt mà thôi.
Hầu hết đàn ông đều có xuất tinh sớm trong đời. Bởi vì có sự khác biệt giữa thời gian xuất tinh và thời gian bạn tình mong muốn. Vì thế mà tầng suất xuất hiện rất giao động từ 5% đến 30%. Vì thế mà các nhà nghiên cứu muốn đi đến định nghĩa bằng thời gian cụ thể. Bằng chứng hiện nay ủng hộ thời gian xuất tinh trong âm đạo trung bình (intravaginal ejaculation latency time (IELT)) là 6,5 phút cho thanh niên từ 18-30 tuổi. Nếu cho là rối loạn khi dưới 2 phút. Tuy nhiên, nhiều đàn ông cũng cảm thấy vui vẻ hạnh phút khi mà thời gian xuất tinh dưới 2 phút, và đôi khi thời gian xuất tinh lâu hơn lại than phiền mình bị xuất tinh sớm.

Cơ chế phóng tinh

Tích tinh là quá trình đầu tiên. Nó bao gồm tích trữ tinh dịch trong ống phóng tinh, túi tinh và tiền liệt tuyến vào niệu đạo sau. Quá trình thứ hai là quá trình tống xuất, bao gồm đóng cổ bàng quang, tiếp theo là co thắt nhịp nhàng niệu đạo bởi cơ vùng chậu và tầng sinh môn, cơ hành hang, và dãn cơ niệu đạo ngoài nhịp nhàng.
Người ta tin rằng chất dẫn truyền thần kinh serotonin (5HT) đóng vai trò quang trọng trong xuất tinh. Vì vậy nồng độ của chất này tại các synap dẫn truyền thần kinh trong não làm xuất tinh sớm. Lý thuyết này được ủng hộ hơn nhờ vào chứng minh hiệu quả của selective serotinin reuptake inhibitors (SSRIs), với sự gia tăng serotonin trong các synap, trong điều trị xuất tinh sớm.
Thần kinh tự động ( sympathic ) kiểm soát giai đoạn tích tinh, và giai đoạn tống xuất được điều khiển bởi thần kinh bản thể ( somatic ) và những neuron thần kinh tự động. Những thần kinh này xuất phát từ tuỷ sống ngực lưng hay lưng cùng và được khởi động nhịp nhàng với tiếp xúc cảm giác đủ để đạt ngưỡng xất tinh để vào thần kinh trung ương.

Điều trị

Người thầy thuốc quyết định điều trị phải phân biệt xuất tinh sớm “phàn nàn” hay “hội chứng”. trong 20 năm qua, xuất tinh sớm được phân loại như là “xuất tinh sớm suốt đời” hay ” xuất tinh sớm mắc phải.” Gần đây phân loại xuất tinh sớm dựa trên nghiên cứu lầm sàng và dịch tể, phân loại ra 2 thể ” Xuất tinh sớm tự nhiên và thay đổi” và “những rối loạn xuất tinh giống như xuất tinh sớm”. Chỉ có những người có xuất tinh sớm kéo dài có chỉ số IELT nhỏ hơn 1 tới 1,5 phút thì nên cần thuốc như là phương pháp điều trị đầu tiên.
Dapoxetine (Priligy) là loại selective serotonin reuptake inhibitor (SSRI) tác dụng ngắn được đưa ra thị trường để điều trị xuất tinh sớm. Đây là thuốc duy nhất được đưa ra thị trường để điều trị xuất tinh sớm. Hiện tại cũng được chấp nhân ở Châu Âu, bao gồm Phần lan, Thuỵ điển, Bồ đào nha, Áo và Đức. Thuốc này đang được chờ đợi ở FDA Hoa kỳ chấp nhận sau kết luận pha III với thành phần tham gia từ 25 quốc gia, bao gồm HK. Trong thành phần dân số hỗn hợp như vậy dapoxetine cải thiện tất cả mọi mặt của xuất tinh sớm và dung nạp tốt.
Tramadol (Ultram or Tramal) là sản phẩn được FDA chấp nhận giảm đau đường uống. Nó là thuốc điều trị không điển hình vì có tính gây nghiện. Nó là chất đồng vật thụ thể mu, nhưng cũng giống như chất chống trầm cảm, làm gia tăng serotonin và norepinephrine. Tramadol cũng có tác dụng phụ, có tác dụng gây nghiện gia tăng IELT 4-20 lần hơn 90% đàn ông.
Clomipramine (Anafranil)  đôi khi cũng dùng đề trị xuất tinh sớm. tác dụng nó làm kéo dài thời gian xuất tinh. tác dụng phụ của nó theo Mayo clinic là ” tăng hoạt động, ham muốn, khao khát tình dục “
Những kem làm mất cảm giác thoa vào qui đầu và thân dương vật cũng có tác dụng làm hạn chế xuất tinh sớm. Bôi mỗi khi cần, không có tác dụng toàn thân. Tuy nhiên bôi lâu dài làm giảm cảm giác ở dương vật, cũng như làm giảm cảm giác cũng bạn tính do kém cũng thấm vào âm đạo.
Một loại phương pháp khác là bơm thuốc vào thể hang. Đây làm phương pháp bơm thuốc như là thuốc vận mạch trực tiếp vào thể hang giúp người đàn ông duy trì thời gian cương. Nó có tác dụng trong 70% các trường hợp.

Rối loạn cương

Rối loạn cương ảnh hưởng hạnh p[húc gia đình

Rối loạn cương (từ tiếng anh Erectile dysfunction) là rối loạn tình dục, đặc điểm là không có khả năng khởi phát hay duy trì cương cứng của dương vật trong quá trình giao hợp.   Dương vật cương là qua trình thủy lực của máu đến và giữ trong những thể xốp của dương vật.

Continue reading “Rối loạn cương”

Xoắn tinh hoàn

Xoắn tinh hoàn (Tiếng Anh testicular torsion) là khi thừng tinh bị xoắn, làm không có máu đến tinh hoàn, gây thiếu máu. Triệu chứng chủ yếu là, đột ngột dữ dội đau tinh hoàn. Một bất thường được biết đến như là bell-clapper deformity, trong đó tinh hoàn mất phương tiện cố định vào bìu làm cho tinh hoàn xoắn xung quanh trục của nó. Chẩn đoán bằng lâm sàng hyay bằng siêu âm. Thiếu máu không hồi phục sau 6 giờ bị xoắn, do đó chẩn đoán và điều trị phải hết sức khẩn trương để bảo vệ tinh hoàn.

Hẹp da qui đầu

Hẹp da qui đầu là tình trạng da qui đầu không thể tuột lên khỏi qui đầu được. Định nghĩa này cũng được áp dụng cho tình trạng nắp âm vật che đi âm vật cũng người phụ nữ (clitoral phimosis) làm giới hạn sự tiếp xúc của âm vật.

Trong thời kỳ sơ sinh, da qui đầu hiếm khi tuột lên; Huntley và cs cho rằng da qui đầu không tuột lên được là bình thường cho đến khi tuổi trưởng thành.” Rickwood cũng như các tác giả khác cho rằng từ ngữ hẹp da qui đầu là một chẩn đoán quá mức vì không phân biệt được sự phát triễn bình thường và tình trạng bệnh lý.

Và tác giả sử dụng từ ngữ sinh lý và bệnh lý để mà phân biệt; những người khác sử dụng từ da qui đầu không thể tuột lên để phân biệt với hẹp da qui đầu bệnh lý.

Hẹp da qui đầu bệnh lý có vài nguyên nhân.

Xơ hóa lichen ( Lichen sclerosus et atrophicus) giống như tình trạng BXO (balanitis xerotica obliterans).

Những nguyên nhân khác bao gồm sẹo gây ra do tuột lên thô bao da qui đầu, và viêm qui đầu. Beaugé thấy rằng những bệnh nhân có hẹp da qui đầu có động tác thủ dâm khác hơn ở người không hẹp. Những nghiên cứu khác thấy hẹp da qui đầu là nguy cơ tắc nghẽn đường tiểu và ung thư dương vật. Điều trị bao gồm kem steroid, tuột lên bằng tay, tạo hình da qui đầu, hay cắt da qui đầu.

Điều trị

Hẹp da qui đầu trẻ nhỏ thường là sinh lý, chỉ điều trị khi nào gây khó khăn cho đường tiểu hay tắt nghẽn. Ở trẻ lớn hay người lớn cần phân biệt với tình trạng dây thắng ngắn cần phải phẫu thuật , hai tình trạng này luôn đi kèm với nhau.

Ở trẻ lớn hay người lớn nếu có hẹp da qui đầu mà không gây vấn đề gì nghiêm trọng thì có thể sử dụng những phương pháp không cần phẫu thuật. Lựa chọn phụ thuộc vào bệnh nhân ( đôi khi thầy thuốc )

Những phương pháp không cần phẫu thuật như là

  • Bôi kem steroid như là bethamethasone trong 4-6 tuần vào vùng hẹp của qui đầu rất có hiệu quả ít tốn kém hơn phẫu thuật,
  • Nong da qui đầu bằng tay, hay bằng dụng cụ không cần trợ giúp của bác sĩ. Beaugé điều trị cho hàng trăm bệnh nhân lớn tuổi bằng phương pháp này bằng cách dạy họ thay đổi thói quen thủ dâm tức là trong khi thủ dâm cố gắng tuột da qui đầu trượt lên qui đầu. hiệu qảu sau 4 tuần.
  • Cắt da qui đầu
  • Rạch da qui đầu, chỉ rạch 1 đường ở lưng từ miệng bao da qui đầu đến rãnh qui đầu, làm bộc lộ qui đầu
  • Rạch da qui đầu phần bụng của da qui đầu kèm cắt đây thắng, áp dụng trong trường hợp dây thắng ngắn.
  • Tạo hình da qui đầu, rạch do và khâu ngang da qui đầu, làm nhanh và không có cắt da qui đầu

Bệnh Peyronie

Bệnh Peyronie (PD) là tình trạng viêm mạn tính của bao trắng thể hang dương vật, gây tình trạng rối loạn mô liên kết dẫn đến phát triển mảng xơ cứng ở dương vật, chiếm tỷ lệ 10% nam giới. Bao trắng là bao xơ bao bọc thể hang, dầy lên gây đau, cong bất thường dương vật, rối loạn cương, ngắn dương vật.

Khám lâm sàng

Bệnh sử của bệnh PD rất thay đổi. tiến trình bệnh lý có thể xảy ra vài năm. Nếu mảng xơ bị can-xi hoá, thì sự gập góc của dương vật sẽ rõ ràng hơn. Trong thời kỳ ban đầu mô tả là bệnh có thể tự khỏi. Tuy nhiên điều này không chính xác. Trong năm 1990, Gelbard và cs thấy những mảng này hết hoàn toàn không cần điều trị có trong 13% bệnh nhân, trong khi 40% mô tả là bệnh ngày càng tiến triển và 47% thấy là không có thay đổi gì. Vì vậy nên can thiệp để phục hồi chứ năng tình dục. Devine và cs đề nghị điều trị nội khoa sớm thì khả năng thành công cao.

Bệnh nhân có PD có đau dương vật (1), chủ yếu khi cương; (2) gập góc dương vật, cũng khi cương cũng có thể thấy khi xìu; (3) mảng xơ có thể sờ thấy ngay vị trí gập góc; (4) có sự lõm vào ở thân dương vật ngay vị trí mảng; và (5) giảm chức năng cương cứng dương vật.

Đau dương vật có thể điều trị nội khỏi vì vậy điều này gây bàn cãi có thể sử dụng như là tiêu chuẩn hết bệnh không. Vài bệnh nhân thấy là có da9u dương vật trước khi có cong hay có mảng xơ.

Về mặt thực hành có thể chia ra làm PD cấp hay mãn tính. Gai đoạn cấp tính có thể kéo dài 18-24 tháng thay đổi thành phần viêm có triệu chứng đau dương vật, cong nhẹ hay có nốt bất thường. Giai đoạn mãn tính thường có mảng xơ cố định dương vật gập góc, không cương cứng.

Điều trị

Không điều trị, khoảng 30-40% bệnh nhân sẽ tự khỏi theo thời gian, 40-50% sẽ nặng nề thêm và còn lại sẽ ổn định tương đối.

Thuốc và chất bổ sung

Rất nhiều điều trị bằng thuốc uống đang được nghiên cứu, nhưng kết quả thì rất khác nhau. Một vài tác giả xem phương pháp không phẫu thuật là còn đang bàn cãi.

Vitamin E được nghiên cứu trong nhiều thập niên, và một vài thành công được báo cáo trong những thử nghiệm cũ, nhưng những thành công này không được lập lại khi nghiên cứu số lượng lớn hơn, nghiên cứu mới hơn. Một sự kết hợp Vitamin E và cochicine cũng chứng minh tính hiệu quả trong sự làm chậm đi sự tiến triển của bệnh.

Một vài thuốc mới tấn công vào cơ chế gây viêm, như là para-aminobenzoate (Potaba), pentoxifylline (hoạt động thông qua ức chế TGFβ1 ), và Coenzyme Q10 .  những chất mới hơn bao gồm acetyl L-carnitine, propionyl L-carnitine, L-arginine, and sildenafil (hoạt động thông qua ức chế men phosphodiesterase-5 )

Hiệu quả của Interferon-anpha-2b trong giai đoạn sớm của bệnh cũng được báo cáo gần đây trong những nghiên cứu, tuy nhiên ít hiệu quả khi mảng xơ hóa vôi.

Hay công thức superoxide dismutase cũng được báo cáo trong điều trị. Hay tiêm thẳng vào plaque bằng Verapamil cũng hiệu quả trong vài bệnh nhân, nhưng gần đây nghiên cứu đối chứng với placebo thấy không có tác dụng. Sử dụng iontophoresis với Verapamil và Dexamethasone bội vào plaque cũng có tác dụng, nhưng nghiên cứu với pacebo thì thấy không hiệu quả. Kem Verapamil dùng để thay thế loại tiêm chích.

Collagenase clostridium histolyticum 9 tên thị trường Xiaflex by Auxilium), là một thuốc chấp nhận bởi FDA để điều trị bệnh co cứng Dupuytren, cũng có tác dụng phân hủy collagen gây bệnh trong bệnh Peyronie. Thuốc này chưa được chấp nhận bởi FDA

Dãn tĩnh mạch tinh

Dãn tĩnh mạch tinh ( Tiếng Anh: Varicocele ) là tình trạng lớn bất thường của đám rối tĩnh mạch tinh trong bìu.  Đám rối này dẫn máu ra khỏi tinh hoàn. Dòng máu xuống tinh hoàn  xuất phát từ trong bụng, và máu đi khỏi tinh hoàn cũng trở về bụng. Mách máu đi trong thừng tinh trong ống bẹn. Nguyên nhân do bất thường hệ thống van của tĩnh mạch tinh, hay do cấu trúc xung quanh chèn ép mà tĩnh mạch tinh dãn.

Tinh hoàn ẩn

Tinh hoàn ẩn (Tiếng Anh: Cryptorchidism) là sự vắng mặt của một hoặc cả hai tinh hoàn ở trong bìu. Đây là dị tật bẩm sinh phổ biến nhất liên quan đến cơ quan sinh dục nam. Trong trường hợp duy nhất, tinh hoàn ẩn có thể phát triển bình thường sau này trong cuộc sống, thường là vào cuối tuổi trưởng thành. Khoảng 3% trẻ đủ tháng và 30% trẻ sơ sinh non được sinh ra với ít nhất một tinh hoàn không xuống.

Continue reading “Tinh hoàn ẩn”

Viêm mào tinh hoàn

Viêm mào tinh hoàn là một tình trạng khó chịu hoặc đau của mào tinh hoàn, một cấu trúc cong phía trên của tinh hoàn, trong đó tinh trùng trưởng thành và được lưu trữ. Viêm mào tinh hoàn có thể là cấp tính hoặc mãn tính: nếu cấp tính, khởi phát đau tinh hoàn thường được đi kèm với sưng, đỏ, nóng trong bìu, nếu mãn tính, có thể bệnh nhân chỉ có đau.