Điều trị nhiễm trùng tiểu ở nam giới, ngắn ngày tốt hơn

Điều trị nhiễm trùng tiểu (NTT) ở nam giới nhiều hơn 7 ngày có thể không giảm NTT tái phát so sánh với điều trị ngắn ngày và có thể gia tăng nguy cơ nhiễm trùng với Clostridium difficile (CDI) theo tạp chí  đăng ngày 3 tháng 12 Archives of Internal Medicine.

Cabozantinib kéo dài thời gian sống còn không tiến triễn (PFS) ở bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến kháng cắt tinh hoàn

Một nghiên cứu mới kết qảu chưa có tiền lệ trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến kháng trị với cắt tinh hoàn (CRPC) với một thuốc mới là cabozantinib (Cometriq, Exelixis). Kết qủa đã được đăng online ngày19 tháng 11 trong tạp chí Journal of Clinical Oncology.

Vô sinh do nam giới

Mười lăm phần trăm các cặp vợ chồng mới cưới sẽ có vấn đề sinh sản, do nguyên nhân nam giới chiếm 30-50%. Nguyên nhân chính xác vô sinh do nam giới không thể nào tìm ra được trong 50% các trường hợp. Tinh trùng đồ là xét nghiệm chủ yếu để đánh giá vô sinh do nam giới. Nên đánh giá sự vô sinh do nam giới nếu sau 1 năm sinh hoạt vợ chồng không dùng biện pháp tránh thai đặc biệt ở những người có yếu tố nguy cơ như tinh hoàn ẩn.

THỊT THỪA NIỆU ĐẠO

Dịch theo tiếng anh là urethral caruncle, là bệnh lành tính, tổn thương đoạn niệu đạo xa (gần miệng niệu đạo) thường gặp phụ nữ mãn kinh. Gần đây bệnh này cũng thấy ở nam giới.  Thịt thừa niệu đạo cũng giống như những bệnh niệu đạo khác như ung thư niệu đạo. Nên cần phải phân biệt những bệnh như túi thừa niệu đạo, sa niêm mạc niệu đạo, ung thư niệu đạo và áp-xe tuyến quanh niệu đạo.

Thận ứ mủ

Tắt nghẽn đường tiểu khi có hiện diện viêm đài bể thận có thể làm cho ứ đọng bạch cầu, vi trùng, và những chất cặn trong hệ thống tiết niệu, dần dần có thể gây nên ứ mủ thận. Trong tình huống này mủ trong một khối căng, bệnh nhân nhanh chóng thay đổi toàn trạng và trở nên nhiễm trùng. Vì thế nhận biết sớm tình trạng này và điều trị tình trạng nhiễm trùng cấp của thận, đặc biệt ở những bệnh nhân có tắt nghẽn, là một vấn đề quang trọng.

Bệnh hoại thư Fournier

Hoại thư Fournier được phát hiện năm 1883, do một nhà hoa liễu học người Pháp Jean Alfred Fournier mô tả 5 bệnh nhân nam trẻ có hoại tử tiến triễn vùng bìu và dương vật mà không có nguyên nhân rõ ràng. Sau đó bệnh này được đặt tên là hoại thư (gangrene) Fournier là bệnh viêm cân cơ do nhiều loại vi trùng của vùng tầng sinh môn, xung quanh hậu môn hoặc vùng cơ quan sinh dục. Không giống như Fournier mô tả ban đầu chỉ gặp ở người trẻ mà gặp mọi lứa tuổi. Hoại tử cơ quan sinh dục ngoài của người đàn ông do 2 nhóm nguyên nhân sau đây:


Hoại tử nguyên phát

  • Chiếm 5% các trường hợp 
  • Hoại tử nguyên phát dương vật và bìu
  • Cơ cế chưa rõ
  • Có thể xảy ra bất cứ tuổi nào

Hoại tử thứ phát

  • 95% các trường hợp 
  • Thứ phát sau các bệnh như suy giảm miễn dịch, tiểu đường
  • Có nguyên nhân tại chỗ như: dò hoặc áp-xe hậu môn, hẹp niệu đạo, chấn thương cơ quan sinh dục ngoài
Hoại tử Fournier

Bệnh sinh học

Vị trùng gây bệnh: thường là vi trùng hiếm khí ( Bacteroides và Clostridium) E. coli, Pseudomonas, Streptococcus.
 
Những tổn thương này do tắc mạch cấp tính của những vi mạch dưới da, đông máu nội mạch tại chỗ.
 
Chẩn đoán
Triệu chứng học
  • Tiền triệu chứng trong vòng 1-2 ngày: rối loạn tiêu hoá, sốt khó chịu ở bìu 
  • Bắt đầu bệnh rất nhanh (< 48giờ) với những dấu hiệu tại chỗ như ( phù, cảm giác bỏng), hoặc tếp lẹp xẹp dưới da, dấu hiệu nhiễm trùng.
  • Pha bệnh nặng lên: hoại tử lan rộng, trong bệnh cảnh nhiễm trùng nhiễm độc với thay đổi toàn trạng. 

Xét nghiệm

  • Công thức máu, tổng phân tích nước tiểu, cấy máu, bilan đông máu, điện giải đồ.
  • Hình ảnh học: đặc điểm là có hiện diện khí trong bìu.
  • Làm bilan các nguyên nhân có thể 

Tiên lượng

  • Tiên lượng rất xấu: 20-40 % tử vong
  • Những yếu tố tiên lượng nặng như: tuổi cao, có nguyên nhân liên quan hậu môn trực tràng, tiểu đường hay có bệnh gan. 

Điều trị

  • Cấp cứu niệu khoa 

Nội khoa

  • Sau khi có chẩn đoán nên cho kháng sinh ngay, kết  hợp Pénicilline G (15-20 triệu đơn vị/24 giờ, truyền mạch ), Métronidazole ( 1-1,5 gram / ngày) và 1 aminoside trong 5 ngày đầu tiên.
  • Huyết thanh chống uốn ván
  • Hồi sức, oxy cao áp điều trị
  • Cho Héparin
Phẫu thuật
  • Rửa bằng chất kháng khuẩn lập đi lập lại, c8át bnỏ mô hoại tử, cắt bỏ vùng da hoại tử
  • Chuyển lưu nước tiểu phía trên, mở bàng quang ra da hoặc mở đại tràng ra da để bảo vệ
  • Sau đó có thể ghép da sau
Soạn theo Memento d’urologie

Lao niệu sinh dục

Lao niệu sinh dục gây ra bởi vi trùng lao Mycobacterium tuberculosis sau lao phổi thông thường vi trùng lao sẽ di chuyển xuống thận và tiền liệt tuyến gây ra tổn thương lao. Tiến triển của tổn thương này gây ra bệnh lý lao niệu sinh dục.
Tổn thương có thể tiến triển rất chậm 15-20 năm không có triệu chứng, mãi cho tới khi tổn thương thông với hệ thống bài tiết. Vì mủ và vi trùng trong hệ thống bài tiết gây nên những triệu chứng kích thích bàng quang.
Bệnh sau đó lây lan sang hệ thống bài tiết chủ yếu là niệu quản( gần hay xa) sau đó là bàng quang. Phản ứng xơ dẫn đến hẹp niệu quản, và co nhỏ bàng quang ( bàng quang nhỏ), phá huỷ mô thận.
Phải nghĩ tới nó
  • Những triệu chứng tiểu kích thích ( tiểu đau, tiểu gắt) ở 90% bệnh nhân, viêm bàng quang mà không thể điều trị bằng kháng sinh thông thường.
  • Tiểu máu không đau ở 80% các trường hợp
  • Có bạch cầu trong nước tiểu mà không có vi trùng
  • Viêm mào tinh mãn tính, và nhất là dò bìu, với ống dẫn tinh bị dầy lên
  • Tiền liệt tuyến bị sưng to ở người lớn
  • Vô sinh
  • Cơ địa bệnh nhân: người còn trẻ, suy giảm miễn dịch, có tiền căn lao phổi ngay cả rất lâu rồi, hay bệnh nhân nhiễm HIV
Chẩn đoán
  • Phải tìm cho được BK ( vi trùng lao ) trong nước tiểu ( dương tính trong 37% các trường hợp), cần phải làm thử nước tiểu 3 lần liên tiếp. Làm xét nghiệm trực tiếp hay cấy nước tiểu ( 6 tuần).
  • CT scan hệ tiết niệu: hình ảnh của thận ( chức năng), niệu quản (hẹp ?), bàng quang ( dung tích?)
  • Soi + sinh thiết bàng quang: hình ảnh của niêm mạc bàng quang ( những mảng đỏ, hạt), sinh thiết dương tính trong 45% các trường hợp.
  • PCR nước tiểu: dương tính trong 94% các trường hợp.
  • Xét nghiệm tuberculin: âm tính.

Điều trị

Điều trị thuốc

Điều trị 6-9 tháng
Bằng sự kết hợp thuốc trong 2-3 tháng
  • Isionazide hoặc INH ( Rimifon): 4-5 mg/Kg/ngày bằng đường uống kèm Vitamin B6 (25mg/ngày)
  • Rifampicine (Rimactan): 10mg/Kg/ngày bằng đường uống.
  • Pyrazinamide (Pirilène): 20-30mg/Kg/ngày
( nếu đang có thai, thay thế bởi ethambutol (Myambutol): 15-20mg/kg/ngày, đường uống)
Vitamin C (1g)
Sau đó trong 3-7 tháng tiếp theo
  • Isionazide + Vit B6
  • Rifampicine
  • Vitamine C
Tất cả các thuốc nên cho 1 liều trong ngày, thường là buổi tối.
Thêm vào streptomycine nếu nhiễm trùng nặng, hoặc tirệu chứng bàng quang dữ dội
Thêm steroide: prednisolone ( Cortancyl), 20mg X 3 ngày nếu lao cấp, hoặc nếu có hẹp đoạn niệu quản xa. Rifampicine làm bất hoạt 1/3 liều corticoides cho vào.
Làm xét nghiệm chức năng gan hàng tháng nếu sử dụng INH và Rifampicine. Pyrazinamide có thể gây ra tổn thương gan cấp. Theo dõi bằng siêu âm thử nước tiểu và UIV nếu cần.

Phẫu thuật

  • Cắt thận trong trường hợp thận không còn chức năng, sau 2-3 tháng điều trị bằng thuốc.
  • Điều trị những tổn thương niệu quản: hẹp có thể là hậu quả của bệnh do xơ hoá ( thảo luận điều trị bảo tồn bằng cách đặt thông JJ tạm thời kèm cho thuốc corticoides)- điều trị bàng quang nhỏ bằng cách chuyển lưu nước tiểu, làm rộng bàng quang bằng ruột.
  • Dò bìu kéo dài: điều trị bằng cách cắt bỏ mào tinh
  • Nếu có điều trị thành công 98% trong 5 năm.

Niệu động học ( phần 1 )

Niệu động học là xét nghiệm cận lâm sàng thường dùng trong tiết niệu. Nó đánh giá chức năng chứa đựng tống xuất của cả bàng quang và niệu đạo. Niệu động học giúp bác sĩ đánh giá cơ của bàng quang và cơ thắt có còn tốt hay không để giải thích, chẩn đoán một số bệnh trong Tiết niệu học. 

Continue reading “Niệu động học ( phần 1 )”

Bướu thận

Ung thư thận chiếm 3% trong tất cả các loại ung thư, và đứng hàng thứ 3 trong ung thư tiết niệu ( sau ung thư tiền liệt tuyến và ung thư bàng quang. tỷ lê nam/nữ là 1/2. Tỷ lệ gia tăng dần dần ở các nước công nghiệp vì lý do cải tiến kỹ thuật chẩn đoán và gia tăng yếu tố môi trường, chúng ta có thể chia ung thư thận làm 2 nhóm.

Suy thận cấp

Suy thận cấp ( tiếng anh Acute renal failure -ARF hay acute kidney injury-AKI) Được định nghĩa như là giảm chức năng thận một cách đột ngột. Đặt trưng bởi gia tăng đột ngột creatinin trong máu hay tăng azot máu ( BUN ). Tuy nhiên ngay tức khắc sau suy thận các chỉ số này chưa tăng ngay, mà dấu hiệu thấy đầu tiên là không có nước tiểu. Tăng creatinin cũng có thể do thuốc ( cimetidine hay trimethoprime) thuốc này ức chế ống thận bài tiết creatinine. Tăng BUN có thể xuất phát từ nguyên nhân tiêu hóa như xuất huyết tiêu hóa, sử dụng steroid, tăng protein.

Phân loại của suy thận cấp

  • Suy thận trước thận: – như là một đáp ứng với tình trạng giảm huyết áp, giảm thể tích, các cầu thận còn nguyên
  • Suy thận tai thận – độ tố thiếu máu hay viêm trong thận với cấu trúc và cưức năng thay đổi.
  • suy thận sau thận- từ nguyên nhân tắc nghẽn nước tiểu sau thận.
Thiểu niệu và không thiểu niệu trong suy thận cấp
Bệnh nhân có suy thận cấp, có thể có thiểu niệu hoặc không có thiểu niệu có tăng creatinin đột ngột hay từ từ, và có thể có khác nhau thành phần về lượng của nồng độ các chất hoà tan trong nước tiểu ( 50-60 % ) suy thận cấp là không thiểu niệu )
Sự khác biệt về mặt lâm sàng của bệnh suy thận cấp cho thấy có rất nhiều dạng bệnh khác nhau. Phân biệt thiểu niệu và không thiểu niệu dựa vào lượng nước tiểu hàng ngày, thiểu niệu khi nước tiểu < 400 ml / ngày và có một tiên lương rất xấu, ngoại trừ suy thận trước thận. Vô niệu được định nghĩa như là < 100ml nước tiểu trong ngày, nếu xảy ra đột nghột có thể là do bế tắc niệu quản 2 bên. Phân chia suy thận theo các kiểu như thế giúp trong chẩn đoán và quyết định điều trị ( ví dụ , thời gian lọc máu ) 

Hệ thống RIFLE
Trong năm 2004, Nhóm Acute Dialysis Quality Initiativeđưa ra hệ thông định nghĩa và phân loại của suy thận cấp, được viết tắc là RIFLE (Risk of renal dysfunction, Injury to the kidney, Failure or Loss of kidney function, and End-stage kidney disease).
Biến chứng tim mạch
Biến chứng tim mạch như là suy tim ( suy tim sung huyết, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim, ngung tim) gặp trong 35% bệnh nhân suy thận mạn. Ứ đọng dịch thứ phát sau thiểu niệu là đặc biệt nhgiêm trọng cho người già có rất ít cung lượng tim ( little cardiac reserve).
Viêm màng ngoài tim cũng là  một biến chứng của STC. Phải tìm những chẩn đoán bổ sung khi có viêm màng ngoài tim như lupus đỏ hệ thống, hội chứng gan thận.
STC cũng có thể là một biến chứng của bệnh tim như là viêm nôi tâm mạc, suy tim sung huyết mất bù, rung nhỉ có huyết khối. Ngưng tim ở bệnh nhân STC có thể là do kali máu cao. Vậynên trong tình huống cấp cứu hãy cho thử calcium chloride tĩnh mạch ( hoặc gluconate ) cho tất cả bệnh nhân STC có nguy cơ ngừng tim. 

Biến chứng phổi

Biến chứng phổi gặp trong 54% bệnh nhân STC đây là biến chứng gây chết người thường gặp. Cũng có vài bệnh cũng có đồng thời triệu chứng ở phổi và thận như ( Hội chứng Goodsparture, Wegener granulomatosis, viêm đa động mạch nút, cryoglobulinnemia, sarcodosis ). Thiếu oxy thường xảy ra trong khi lọc máu có thể trầm trọng thêm bênh phổi có sẵn. 
Biến chứng đường tiêu hoá
Biến chứng bao gồm nôn, buồn nôn, chán ăn là thường xuyên là những bến chứng thường gặp của STC. Xuất huyết tiêu hoá chiếm 1/3 bệnh nhân. Phần lớn xuất huyết tiêu hoá là nhẹ, nhưng xuất huyết tiêu hoá chiếm 3-8% số trường hợp tử vong do suy thận cấp.
Tăng amylas máu mức độ trung bình thường gặp ở bệnh nhân STC (2-3 lần). Làm cho chẩn đoán viêm tuỵ cấp phức tạp hơn, tuy nhiên không tăng lipase xét nghiệm để loại trừ viêm tuỵ cấp. Viêm tuỵ như là bệnh đồng thời vớ STC trong bệnh nhân có xơ vữa mạch, viêm mạch máu và nhiễm trùng do viêm đường mật ngược dòng.
Vàng da chiếm 43%, nguyên nhân là sung huyết gan, truyền máu, và nhiễm trùng. Viêm gan cùng vớ suy thận cấp nến chẩn đoán phân biệt với tắc mật, viêm gan B, leptospirosis, ngộ độ acetaminophen và Amanita phalloides 

Biến chứng nhiễm trùng

Nhiễm trùng chiếm 33% ở bệnh nhân STC. Vị trí thường gặp là nhiễm trùng từ đường tiết niệu, vài nghiên cứu thấy tỷ lê tử vong 11-72%. 
Biến chứng thần kinh
Triệu chứng thần kinh của STC 38%, mệt mỏi, lơ mơ, thay đổi chu kỳ ngũ thức, giảm trí nhớ và giảm nhận thức. Hiếm có dấu thần kinh khu trú. Sinh bệnh học của những dấu hiệu thần kinh này chưa rõ, có lẽ do tăng creatinine và BUN. Cũng có nhiều bệnh lý có dấu hiện thần kinh và thận như (chẳng hạn, SLE, thrombotic thrombocytopenic purpura [TTP], hemolytic uremic syndrome [HUS],  viêm nội tâm mạc, cao huyết áp ác tính).

Cận lâm sàng chẩn đoán

Có vài xét nghiệm hữu dụng trong đánh giá nguyên nhân suy thận cấp, những dấu hiệu có thể giúp ích trong điều trị. Công thức máu, hoá học, tổng phân tích nước tiểu điện giải nước tiểu.

  • Trong vài trường hợp xạ hình thận là cần thiết, đặc biệt suy thận cấp do tắc nghẽn. Hội điện quang Hoa kỳ đề nghị làm siêu âm, đặc biệt là siêu âm Doppler như là phương pháp thích hợp trong suy thận cấp.
  • Creatinin và BUN Là chủ yếu trong STC, tuy nhiên BUN phụ thuộc vào lượng protein ăn vào. Tỷ lê BUN / creatinine là dấu hiệu quang trọng. Khi tỷ lệ > 20:1 cho thấy gia tăng tái hấp thu urea ( như giảm thể thích ), suy thận trước thận.   BUN có thể gia tăng trong bệnh tiêu hoá, xuất huyết tiêu hoá, điều trị corticoid, tăng protein.
  • Công thức máu, phết máu ngoại biên và huyết thanh chẩn đoán: Nếu có cấu trúc hình cuộn có thể là bệnh myeloma và xét nghiệm nên hướng tới  điện di miễn dịch huyết thanh và nước tiểu. Nếu có myoglobulin hoặc hemoglobulin ( bệnh thận sắc tố) tăng acid uric  ( hội chứng ly giải bướu), tăng LDH ( nhồi máu thận). huyết thanh chẩn đoán, kháng thể kháng nhân ANA, ANCA, kháng thể anti-GBM, viêm gan và ASO, bổ thể để tìm bệnh lý hay loại trừ bệnh cầu thận.
  • Tổng phân tích nước tiểu
  • Điện giải trong nước tiểu
  • Siêu âm
  • Xạ hình thận
  • Sinh thiết thận

Điều trị

Phải điều trị  bệnh nền gây nên STC. Một phần lớn khối thận bị tổn thương trước khi có bất thường sinh hoá xảy ra. Bởi vì độc lọc cầu thận và creatinin không đi song hành với nhau, đặt biệt trong giai đoạn sớm creatinine chưa tăng trước khi mất 50 chức năng thận.

Thời gian lọc máu

Có nhiều bàn cãi xung quanh việc thời gian lọc máu khi nào. Lọc máu có thể làm chậm thời gian phục hồi của bệnh nhân. Nhiều người thích màng lọc tương hợp sinh học cho bệnh nhân.

Không có sự khác biệt giữa lọc máu ngắt quản và phương pháp điều trị thay thế thận liên tục, nhưng điều này đang được khảo sát. Tuy nhiên phương pháp điều trị thay thế thận có thể có vai trò trong bệnh nhân có tình trạng huyết động không ổn định hay những người có chức năng thận suy kéo dài sau đột quị hay suy gan. Những bệnh nhân như vậy không chịu đựng việc thay đổi đột ngột về dịch và điện giải. Chỉ định lọc máu:
  • Ứ dịch không thể nào điều trị bằng lợi tiểu ( volume expansion)
  • Tăng Kali máu kháng trị với nội khoa
  • Mất thăng bằng kiềm toan kháng trị với nội khoa
  • Tăng azote máu ( BUN > 80-100)
  • Tăng urea máu

Kiểm soát huyết động và những bất thường sinh hoá

Furosemide có thể điều trị ứ dịch khi bệnh nhân vẫn còn đáp ứng, cần cho bằng đường tĩnh mạch. Furosemide không có vai trò chuyển suy thận thiểu niệu thành STC không có thiểu niệu hoặc tăng lương nước tiểu khi mà bệnh nhân bị giảm thể tích

Vì vậy sự đáp ứng với furosemide  có thể xem như dấu hiện tiên lượng tốt. Trong giai đoạn này thận vẫn còn rất yếu với những ảnh hưởng của chất độc. Những chất độc cho thận như ( chất cản quang, kháng sinh có độc tính cho thận, hay kim loại nặng, chất chông ung thư hay NSAIDs ) hãy sử dụng với cẩn thận tối đa. Vì thế tất cả các thuốc bài tiết qua thận nên cho với sự cẩn thận cao và chỉnh liều thích hợp.

Điều chỉnh toan hoá nặng

Bằng cách cho natribicarbonate quang trọng như cầu dẫn đến lọc máu. Cũng không nên nói quá là điều trị STC chủ yếu là điều trị nâng đỡ. Những thuốc như là dopamine, nesiritide, fenoldopam, và mannitol, không nên chỉ định trong bệnh nhân  STC vì rất nguy hiểm cho bệnh nhân.  
Điều trị tăng kali máu
Tăng kali máu có thể là đe doạ tính mạng nên điều trị bằng cách giảm tiêu thụ Kali trong thức ăn hay cho ăn qua thông, vận chuyển Kali qua ruột sử dụng resins liên kết với kali, làm tăng vận chuyển kali nôi bào với insulin và dung dịch glucose và lọc máu.
 
Điều chỉnh bất thường huyết học
Như là thiếu máu hay rối loạn chức năng của tiểu cầu do ure máu cao gồm truyền máu , demopressin và estrogen. 
Thay đổi chế độ ăn
Thay đổi chế độ ăn là quan trọng trong tiến trình điều trị suy thận cấp. Hạn cế muối và dịch. Phải thường xuyên theo dõi Kali và phospho không được tiết bởi thận nên chúng thường cao trong máu.
Trong giai đoạn đa niệu, Kali và phospho cũng thường thiếu bệnh nhân cần ăn bổ sung chất này hay bằng đường truyền mạch. Tính toán cân bằng lượng nitrogen trong máu cũng là một th1ach thức đặc biệt trong những bệnh nhân có giảm thể tích, tăng tình trạng chuyển hoá, xuất huyết tiêu hoá và tiêu chảy. Bệnh nhân bệnh nặng nên nhận ít nhất 1g/kg/d protein ăn vào nên tránh cho vào qua mức có thể gây tâng BUN và mất nước dẩn đến tăng natri máu.

Thuốc trong suy thận cấp

Vài loại thuốc đang thí nghiệm trên động vật growth factors, peptides vận mạch, adhesion molecules, endothelin inhibitors, và thận nhân tạo sinh học. Aminophylline cũng đang được thí nghiệm phòng ngừa suy thận.
Kế hoạch phòng ngừa suy thận trong chụp cản quang là truyền dịch. mặc dù loại dịch truyền nào là lý tưởng là còn đang bàn cải, normal saline hay NaHCO3 đảng trương. Normal saline truyền với tốc độ 1 ml/kg/h trong 12 giờ trước khi chụp và 12 giờ sau khi chụp.
Ở bệnh nhân có nguy cơ cao ứ dịch ( suy tim sung huyết, phân suất tống máu thấp < 40%) thì NaHCO3 đẳng trương khuyên nên dùng. Cũng có thể pha 3 ống NaHCO3 trong 1 lít D5W truyền tốc độ 3 ml/kg/h trong 1 giờ trước khi chụp, và giảm liều 1ml/kg/h sau khi chụp trong 6 giờ sau đó.
Những chất phòng ngừa khác cũng có hiệu quả là  N -acetylcysteine liều 1200 mg PO mỗi 12h. Nên cho cho bệnh nhân có nguy cơ cao, trước 1 ngày chụp x-quang. Những thuốc như là lợi tiểu, NSAIDs, và ACEIs nên tránh khi gần thời gian chụp.

Thuốc lợi tiều

Thuốc lợi tiểu không có hiệu quả khi đã có chẩn đoán STC, nó chủ yếu dùng để điều chỉnh dịch và được sự dụng rất mạnh. Sử dụng dịch truyền đẳng trương kèm với lợi tiểu còn đang bàn cãi   

  • Furosemide (Lasix)
Furosemide tăng bài tiết nước bằng cách can thiệp vào hệ thống vận chuyển chlo, do đó ức chế chlo và Na tại vị trí phần lên dầy của quay Henle và ống lượng xa. Có tác dụng lợi tiểu rất mạnh và kéo dài 6-8 giờ. trong suy thận có thể sử dụng liều cao , có thể tới 600mg /ngày
Truyền mạch cần thiết trong STC để duy trì nước tiểu. truyền ạmch thường sử dụng trong khoa ICU, duy trì bài niệu giảm độc tính trên tai so với truyền mạch bolus  
Adrenergic Agonists
Dopamine với liều nhỏ (1-5 mcg/kg/min) có thể gây dãn mạch thận, tăng tính thấm của thận. có thể giảm hấp thu natri, vì vậy giảm năng lượng cần thiết cho tổn thương ống thận. Làm gia tăng lượng nước tiểu, ngừa tắc ống thận do tinh thể.

  • Dopamine

Kích thích adrenergic và dopaminergic receptors. tác động huyết học của nó phụ thuộc vào liều, với liều thấp làm kích thích dopaminergic receptors, có thể tăng dãn mạch thận và mạch mạc treo. Kích thích tim và dãn mạch thận khi sử dụng liều cao.

Ức chế kênh can-xi

Những thuốc này được chứng minh trên động vật chưa chứng minh trên người.

  • Nifedipine (Adalat, Procardia, Afeditab CR, Nifediac CC, Nifedical XL)

Nifedipine dãn cơ trơn gây dãn mạch, vì vậy gia tăng máu và oxy tới.

Phẫu thuật cắt tiền liệt tuyến toàn phần qua ngã tầng sinh môn

Những nghiên cứu bàn đầu về giải phẫu học và đường tiếp cận tiền liệt tuyến qua ngã tầng sinh môn được thực hiện bởi các nhà phẫu thuật Đức vào cuối năm 1800. Trong năm, 1867 Billroth thực hiện cắt tiền liệt tuyến qua tầng sinh môn đầu tiên.

Phòng ngừa nhiễm trùng tiểu tái phát

Khoảng 25% phụ nữ viêm bàng quang cấp sẽ bị tái phát. Số lượng cơn tái phát phụ thuộc từng người trung bình 0.3 – 7.6 cơn / năm. Phần lớn nhiễm trùng là do vi trùng từ đường ruột xung quanh miệng niệu đạo.

Phụ nữ phát triễn viêm bàng quang trong vòng 2 tuần sau điều trị thường là giống với vi trùng ban đầu. Phải tìm nguồn lý do làm sao mà nhiễm trùng tồn tại, như bất thường giải phẫu học ( sỏi, áp-xe, hay bệnh nang).

Tiếp cận về hành vi

Có 3 yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến nhiễm trùng tái phát: phụ nữ có nhiều lần quan hệ tình dục, hay có sử dụng màng chắn để tránh thai có chất chống tinh trùng, và giảm estrogen trong âm đạo và cấu trúc xung quanh niệu đạo. Hai yếu tố sau làm giảm lactobacilli trong âm đạo. Bệnh nhân nào có sử dụng màng chắn có chất diệt tinh trùng thì nên đổi phương pháp tránh thai khác.

Bệnh nhân nào có từ 2-3 đợt viêm bàng quang hàng năm thì có thể điều trị bằng cách thay đổi hành vi như trên. Thay đổ hành vi rất dễ thực hiện, rẻ tiền, không có nguy cơ.

Phụ nữ trong tuổi hoạt động tình dục hãy thử đi tiểu sau mỗi lần quan hệ, cũng có thể giảm được nguy cơ tái phát.

Tự điều trị bằng kháng sinh

Là phương pháp được chấp nhận để phòng ngừa tái phát. Người bác sĩ nên tư vấn cho bệnh nhân về những dấu hiệu cảnh báo của viêm bàng quang những dấu hiệu nặng mặc dù có điều trị.

Trong một nghiên cứu những phụ nữ nào có ít nhất 2 lần nhiễm trùng tiểu trong vòng 2 năm qua đều có thể tự chẩn đoán và điều trị nhiễm trùng tiểu. Và tự điều trị bao gồm uống ofloxacine 200 mg uống 2 lần trong ngày liên tục trong 3 ngày, hoặc levofloxacine, 250 mg ngày 1 viên trong 3 ngày.

Những phụ nữ nào có hơn 3 lần nhiễm trùng tiểu trong 1 năm thì nên xem xét phương pháp uống kháng  phòng ngừa tích cực hơn kết hợp với biện pháp thay đổi hành vi. Hay phụ nữ thường có viêm bàng quang sau quan hệ nên kết hợp uống kháng sinh sau quan hệ, bao gồm (nitrofurantoin 50 mg, trimethoprim-sulfamethoxazole [TMP-SMX] 40/200 mg, hoặc cephalexin 500 mg) sau quan hệ. Nếu phương pháp trên không có tác dụng có thể áp dụng, hay có những cơn viêm bàg quang phức tạp thì có thể áp dụng phát đồ sau đây.

  • TMP-SMX – 40/200 mg lúc ngủ hoặc 3 lần hàng tuần
  • Nitrofurantoin – 50-100 mg lúc ngủ hoặc 3 lần hàng tuần
  • Norfloxacin – 200 mg lúc ngủ hoặc 3 lần hàng tuần
  • Trimethoprim – 100 mg lúc ngủ hoặc 3 lần hàng tuần

Phương pháp này chứng tỏ hiệu quả ngay cả sử dụng trong vòng 5 năm. Tuy nhiên sau khi sử dụng 6-12 tháng có thể ngưng uống kháng sinh và thử xem bệnh nhân sẽ có những khoảng thời gian dài không bị nhiễm trùng. Khi nào cảm thấy bệnh tái phát thì hảy uống kháng sinh.

Phụ nữ mãn kính có thể dùng biện pháp thay thể estrogen kết hợp hoặc uống hoặc đặt tại chỗ. Tác dụng có thể do phục hồi lại vi khuẩn lactobacilli trong âm đạo thay thế Enterobacteriaceae và giảm pH trong âm đạo.

Phòng ngừa trong nhóm dân số đặc biệt

Bệnh nhân bị chấn thương cột sống

Ở nhóm bệnh nhân này phòng ngừa bằng trimethoprim-sulfamethoxazole hoặc nitrofurantoin có hiệu quả. Khả năng bị nhiễm vì trùng đa kháng thuốc nếu bệnh nhân đang nằm viện. Trong trường hợp đó thử sử dụng với methenamine ( 1g 3 lần ngày ) mỗi 2 tháng kèm với nitrofurantoin ( 50-100 mg 2 lần ngày). Methenamine được chuyển thành formic acid có tính chất kháng khuẩn.

Nguy cơ có thể giảm đi nếu sử dụng thông tiểu ngắt quản.

Bệnh nhân có đặt thông tiểu

Xem bài ( nhiễm trùng tiểu do đặt thông tiểu )

Bệnh nhân ghép thận

Nhiễm trùng tiểu là một biến chứng quan trọng trong bệnh nhân ghép thận, đặc biệt trong những tháng đầu tiên sau ghép, và có thể dẫn đến nguy cơ thải ghép và bệnh nhân tử vong. Phòng ngừa bằng TMP-SMX ( 1 viên /ngày ) bắt đầu 2-4 ngày sau phẫu thuật và kéo dài 4-8 tháng, có thể giảm nguy cơ nhễm trùng tiểu.

Bướu lành tiền liệt tuyến

Bướu lành tiền liệt tuyến (còn được gọi tắt là BPH theo tiếng Anh), phì đại nhiếp tuyến hay phì đại lành tính tuyến tiền liệt là một sự tăng kích thước của tuyến tiền liệt ở nam giới trung niên và cao niên. Trong u xơ tiền liệt tuyến, tuyến tiền liệt tăng kích thước và ép vào niệu đạo và bàng quang, gây khó khăn cho tiểu tiện. Nó gây nên triệu chứng tiểu ngập ngừng, tiểu nhiều lần, tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu và tiểu khó. Có rất ít mối liên hệ giữa các triệu chứng của u xơ tiền liệt tuyến với ung thư tuyến tiền liệt.

Bàng quang tăng hoạt

Bàng quang tăng hoạt là bệnh về chức năng chứa đựng của bàng quang, làm cho bệnh nhân mắc tiểu rất cấp bách, rất khó khăn kiềm giữ nước tiểu được, và có thể làm cho són tiểu (tiểu không kiểm soát). Nếu bạn có bàng quang tăng hoạt, bạn có thể rất bối rối, tự cô lập mình, tự giới hạn trong công việc hay đời sống xã hội.

Continue reading “Bàng quang tăng hoạt”

Người béo phì có nguy cơ cao về rối loạn đi tiểu

NEW YORK (Reuters Health) ngày 14 tháng 11 – Người đàn ông béo phì có tỷ lệ gia tăng tiểu đếm so với người bình thường. Những người nghiên cứu nói “kế quả của chúng tôi cung cấp thêm nhiều lý do để giảm cân ở những bệnh nhân khám vì vấn đề không giữ nước tiểu được, nhưng cũng chỉ ra tính đa dạng về triệu chứng trong nhóm bệnh nhân đó” Bác sĩ Kari A. O. Tikkinen, đang làm việc tại  McMaster University, Hamilton, Ontario viết cho Reuter health.
Theo báo cáo trực tuyến ngày 24 Tháng 10 trên Tạp chí Urology, Bác sĩ Tikkinen của Đại học Helsinki, Phần Lan và các đồng nghiệp đã gửi câu hỏi đến 6.000 người Phần Lan lựa chọn ngẫu nhiên và phản hồi nhận được từ 3727 (62,4%).
Sau khi điều chỉnh, béo phì liên quan đáng kể với tiểu đêm ở cả nam giới (tỉ số chênh, Odds ratio, 2,0) và phụ nữ (tỉ số chênh, 2,4).

Đây không phải là trường hợp tiếp gấp (urgency) đàn ông hoặc phụ nữ. 

Ở nam giới, béo phì có liên quan với tiểu nhiều lần (tỉ số chênh 2,0). Ở phụ nữ, nó được kết hợp với cả hai tiểu không kiểm soát gắng sức (stress incontinence) (tỉ số chênh, 1,9) và tiểu không kiểm soát cấp kỳ ( urgency incontinence ) (TSC, 3,0). Những triệu chứng này không kiểm soát ở nam thường không nhiều để cho phép phân tích chính xác.
Kết quả tổng thể, nói rằng các nhà điều tra “làm nổi bật tầm quan trọng để đánh giá các triệu chứng cụ thể và các yếu tố gây nhiễu tiềm năng.”
Tùy thuộc vào đặc trưng của các câu hỏi được sử dụng để gợi ra những thông tin triệu chứng, họ nói thêm, “việc giải thích mối liên hệ giữa chỉ số khối lượng cơ thể và tiểu gấp và / hoặc bàng quang tăng hoạt có thể lộn xộn. Một số nghiên cứu trước đây đã sử dụng các cách định nghĩa triệu chứng chưa rõ ràng.
Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng “tính hợp lệ của tự báo cáo ( self-report ) đã không được thành lập cho tất cả các đặc điểm được xem xét và nghiên cứu thiết kế cắt không đủ để đưa đến kết luận về mối quan hệ nhân quả.
Những kết quả từ dân số Phần Lan có thể không thể khái quát được tất cả các nhóm dân số khác “. Tuy nhiên, Bác sĩ Tikkinen kết luận, những phát hiện này có thể giúp cho việc “khám phá ra phương thức điều trị hiệu quả hơn trong tương lai.
BS. Phan Văn Hoàng lược dịch. Nguồn http://bit.ly/RUhdYA

Sỏi thận

Thận là cơ quan có tác dụng lọc máu, loại trừ chất thải ra khỏi cơ thể và tạo nước tiểu. Nó có chức năng điều hòa chất điện giải trong cơ thể đó là những chất cực kỳ quan trọng. Nước tiểu sẽ chảy từ thận theo 2 ống gọi là niệu quản xuống bàng quang. Khi bàng quang đầy nó sẽ tống xuất nước tiểu ra ngoài theo một ống, lớn hơn niệu quản gọi là niệu đạo.

Thận đa nang

Thận đa nang ( polycystic kidney disease PKD ) là rối loạn di truyền học đặc trưng bằng việc sản sinh nhiều nang trong 2 thận. Thận là 2 cơ quan, mỗi trái thận có kích thước bằng nắm tay, nằm phần trên cửa bụng, phía trước lưng. Thận lọc chất thải từ máu để tạo thành nước tiểu. Thận cũng điều hoà lượng chất sống trong cơ thể. Khi có nang hình thành, nang chứa đầy dịch. Đa nang thận làm cho thận to ra đáng kể, làm cho thận suy.

Thận đa nang làm cho bệnh nhân suy thận cần lọc máu và ghép thận. Khoảng 1/2 bệnh nhân thận đa nang sẽ chuyển qua suy thận mãn, cũng còn được gọi bệnh thận giai đoạn cuối ( ESRD).

Thận đa nang cũng có thể gây đa nang trong gan cũng như trong các cơ quan khác, như mạch máu trong não và tim. Số lượng nang thận cũng như biến chứng của nó giúp bác sĩ phân biệt thận đa nang và nang thận đơn giản.
Ở Hoa kỳ có khoảng 600.000 người có thận đa nang, bệnh đa nang thận chiếm hàng thứ 4 trong những bệnh nhân chết vì suy thận. Có 2 thể bệnh chính của thận đa nang
  • Thận đa nang di truyền nhiễm sắc thể trội (ADPKD), là dạng di truyền chính, chiếm 90%. Triệu chứng thường phát triễn tuổi 30-40 tuổi, nhưng cũng có thể xuất hiện sớm hơn, ngay cả khi còn trẻ.
  • Thận đa nang di truyền nhiễm sắc thể lặng (ARPKD), là dạng di truyền hiếm. Xuất hiện thường vài tháng sau khi sinh , đôi khi trong bào thai.

Thận đa nang di truyền nhiễm sắc thể trội

Là dạng di truyền chủ yếu của thận. Có nghĩa là nếu có cha hoặc mẹ bị bệnh thì bạn có 50% cơ hội bị bệnh. Trong vài trường hợp, 10% ADPKD xãy ra tự nhiên, không có cha mẹ bị bệnh. Nhiều người có ADPKD sống vài chục tuổi mà không có triệu chứng, khi đó gọi là bệnh thận đa nang người lớn. Trong vài trường hợp nang thận có thể hình thành lúc còn nhỏ, và lớn nhanh gây những triệu chứng khi còn trẻ.

Nang thận phát triễn từ cầu thận đơn vị lọc trong thận. Nang thận dần dần tách khỏi cầu thận, tiếp tục lớn lên. Thận lớn lên cùng với nang thận, có hàng ngàn nang, vẫn còn giữ cấu trúc bình thường của thận. Khi nang lớn đầy đủ thận to ra có thể cân nặng 20-30 pound. Cao huyết áp có thể xảy ra khi bệnh nhân đạt 20-30 tuổi.

Triệu chứng

Hầu hết là triệu chứng đau lưng, hay đau 1 bên ở vùng giữa xương sườn và xương chậu. Bệnh nhân thường có những biến chứng sau đây:
  • Tiểu máu
  • Nang trong gan hay trong tuỵ
  • Bất thường van tim
  • Cao huyết áp
  • Sỏi thận
  • Phình mạch torng mách máu của não
  • Những túi thừa nhỏ trong đại tràng

Chẩn đoán

Phần lớn chẩn đoán bằng hình ảnh học, bằng siêu âm, bằng CT scan hay bằng MRI cũng được sử dụng một cách rộng rãi. Thời gian phát triễn thành suy thận rất khác nhau. Khi bệnh nhân còn nhỏ tuổi nang thận có thể còn nhỏ. Vì vậy tiêu chuẩn chẩn đoán có thể phụ thuộc vào tuổi ví dụ như khi có ít nhất 2 thận ở tuổi 30 mà có gia đình bị bệnh coi như ADPKD, hay có gia đình có ADPKD những nang ở cơ quan khác cũng xem như chẩn đoán xác định.
Trong nhiều trường hợp không có triệu chứng gì, đi thử nước tiểu hay thử máu cũng không phát hiện gì, bệnh nhân không biết mình mang bệnh.
Khi nang phát triễn lớn, chẩn đoán sẽ dễ dàng với hình ảnh học, đặc biệt bằng siêu âm. Siêu âm rất an toàn ngay cả bệnh nhân có tha, cũng có thể phát hiện nang từ trong bào thai, nhưng hiếm gặp trong trường hợp nhiễm sắc thể trội.
Những phương tiện mạnh hơn như là CT scan hay MRI cũng có thể phát hiện nang. Gần đây việc sử dụng MRI torng việc theo dõi nang rất tốt, là phương tiện theo dõi bệnh.
Chẩn đoán có thể bằng những xét nghiệm di truyền học, thấy đột biến gen gọi là PKD1 và PKD2. Người ta có thể phát hiện bệnh trước khi nang thận bắt đầu lớn, mặc dù vậy việc phát hiện gene cũng không giúp có chương trình điều trị hay phòng ngừa bệnh tiến triễn cho bệnh nhân. Tuy nhiên ở bệnh nhân trẻ có thể điều chỉnh chế độ ăn và theo dõi huyết áp sớm. Hay người lớn có gen này nên cân nhắc việc họ có con có thể truyền bệnh cho con. 

Điều trị như thế nào

Mặc dù không có điều trị cho bệnh này, tuy nhiên điều trị có thể làm giảm bớt triệu chứng hay kéo dài thêm đời sống.  

  • Đau. Đau trong vùng thận, có thể gây ra do nang thận nhiễm trùng, máu trong nang, sỏi thận, hay do căng dãn mô liên kết xung quanh nang do nang lớn. Bác sĩ sẽ đánh gá những nguyên nhân này, nguyên nhân gây ra đau, sử dụng những thuốc giảm đau có thể mua tại quầy, như aspirin hay acetminophen ( Tylenol). Bệnh nhân nên tham khảo ý kiến của bác sĩ về sử dụng thuốc giảm đau có thể hai thận không. Trong trường hợp nay lớn gây đau có thể phẫu thuật giải áp, nhưng không làm cho thận không tiến triễn sang suy. 
  • Nhiễm trùng niệu. Bệnh nhân hay có khuynh hướng nhiễm trùng niệu, điều trị kháng sinh là cần thiết. Khi có dấu nhiễm trùng nên điều trị ngay để tránh nhiễm trùng có thể lây vào nang, nang thận nhiễm trùng có thể khó điều trị vì thuốc kháng sinh khó vào nang thận. 
  • Cao huyết áp. Phải kiểm soát cho bằng được huyết áp. Thay đổi đổi sống, chế độ ăn và tập luyện có thể giúp ích
  • Suy thận giai đoạn cuối. Sau nhiều năm tiến triển thành suy thận giai đoạn cuối, điều trị sẽ là lọc máu định kỳ hay ghép thận.

Thận đa nang di truyền nhiễm sắc thể lặn

Bệnh thận đa nang di truyền nhiễm sắc thể lặng là gì?

Là bệnh gây ra do đột biến nhiễm sác thể PKHD1. Những nhiễm sắc thể khác của bệnh này có thể có nhưng chưa được phát hiện bởi các nhà khoa học. Cả hai cha và mẹ có bệnh này mới có khả năng truyền cho con, nguy cơ là 25%.

Triệu chứng của bệnh này có thể có trước khi sinh, vì vậy hay còn gọi là “infantile PKD”. Trẻ được sinh ra với bệnh này, thường chứ không luôn luôn phát triển thành suy thận trước khi trưởng thành. Mức độ trầm trọng này rất khác biệt, có thể trẻ chết sau vài giờ sinh ra do suy hô hấp.
Vài trẻ có thể lớn đến tuổi trưởng thành. Sẹo gan có thể xảy ra trong tất cả bệnh nhân và gây ra mối quan tâm nhiều khi tuổi càng lớn 

Triệu chứng là gì?

Thường là cao huyết áp, nhiễm trùng tiểu, tiểu nhiều lần. Bệnh này thường ảnh hưởng gan và lách vì vậy gây thiếu máu, dãn tĩnh mạch và trĩ. Bởi vì thận chịu chức năng chinh trong phát triễn thể chất của bệnh nhân, do đó trẻ thường chậm phát triễn thể chất là dấu hiệu chính. 

Làm sao chẩn đoán?

Siêu âm thai hay trẻ sơ sinh thấy thận lớn có hình ảnh bất thường. Bởi vì hay biến chứng qua sẹo gan nên, bệnh này cần theo dõi gan cũng giúp chẩn đoán. 

Điều trị như thế nào?

Phải điều trị cao huyết áp, kháng sinh để kiểm soát nhiễm trùng tiểu. Tăng cường dinh dưỡng ở trẻ thiếu dinh dưỡng. Trong vài trường hợp sử dụng hormon tăng trưởng. Để điều trị suy thận cần phải sử dụng lọc máu hay ghép thận. 

Bệnh di truyền

Gen là một đoạn của DNA. Nếu trẻ chỉ nhận một gen bệnh từ cha hoặc mẹ mà mắc bệnh là bệnh di truyền trội, nếu cả hay gen gây bệnh mới thể hiện bệnh là di truyền theo thể lặn. Gen bệnh cũng có thể có được do tự đột biến. Cơ hội mắc bệnh theo thể trội cao hơn thể lặn.