Bệnh da không ác tính của cơ quan sinh dục nam

Condyloma acuminata (Image courtesy of Hon Pak, MDTổn thương da không ác tính của cơ quan sinh dục, là bệnh lý ngoài da nhà tiết niệu học thường thấy nhất. Hầu hết các bệnh này, chẩn đoán có thể chắc chắn bằng cách khám lâm sàng và bệnh sử, nhưng, trong vài trường hợp, cần phải sinh thiết. Bài này nói về bệnh ngoài da không đặc hiệu cho cơ quan sinh dục mà có thể gặp bất kỳ vùng nào của cơ thể.   

Chủ đề trong bài báo này chia làm 2 nhóm dựa vào biểu hiện lâm sàng ban đầu và bệnh thường gặp nhất. Chủ yếu nhấn mạnh chẩn đoán, điều trị, kết quả điều trị trên lâm sàng.
 
Cố gắng bao gồm những lựa chọn điều trị gần nhất, nhất mạnh vài trò của thuốc. Khuyến cáo của  CDC cũng được nhấn mạnh   
 
Mặc dù hiếm ở Hoa kỳ, ít nất mạnh trong trường y khoa, một vài bệnh nhiễm trùng đang giá tăng do vấn đề nhập cư.
 

Bệnh nấm lôngTrichomycosis

Bệnh nấm lông là bệnh nhiễm trùng thân lông, tìm thấy lông trên những vùng da tiết nhiều mồ hôi đặc biệt vùng nách, vùng mu. 

Sinh lý bệnh học

3 chủng vi trùng Corynebacterium gây nên bệnh trichomycosis. Corynebacterium tenuis là nguyên nhân trong hầu hết các trường hợp. Mặc dù 33% đàn ông cấy có vi trùng này trong bẹn hoặc vùng nách, những yêế tố thuận lợi như tăng tiết mồ hôi là yêế tố làm tăng sự phát triễn của vi trùng dẫn tới triệu chứng lâm sàng.

Lâm sàng / chẩn đoán

Bệnh nhân có những nốt chấm nhỏ màu đỏ đen hoặc vàng vị trí thân lông vùng bẹn.[3] Những nốt này có thể kết hợp với đỏ da và ngứa. Những chấm này đổi màu xanh huỳnh quang khi khám băằg đèn Wood. Bội nhiễm với nấm da khác cũng có thể có xuất hiện.

Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán phân biệt nấm tóc với nits, lice, hợac nhiễm trùng nấm với khám đèn Wood.

Điều trị 

Điều trị bằng cách giảm tiết mồ hôi với chất làm ẩm và kháng sinh. Kháng sinh bôi tại chỗ như bacitracin, clindamycin, hoặc erythromycine là hiệu quả trong hầu hết các trường hợp. Kháng sinh đường uống erythormycine.

Kết quả 

Hầu hết các trường hợp là hết bệnh tuy nhiên tái phát thường gặp.

Viêm nang lông Folliculitis

Là bệnh thường gặp,  viêm của nang lông.

Sinh lý bệnh học

Những yếu tố bên ngoài như chấn thương từ việc cạo lông, chảy da là yếu tố thuận lơi cho vi trùng trong vùng này phát triễn, dẫn đến viêm nang lông. Vi trùng thường gặp là Staphylococcus, Pseudomonas,Candida species. Ít gặp hơn là herpes virus và nấm da. Viêm nang lông không nhiễm trùng có thể do nhiều yếu tố khác nhau, kích thích do việc cạo lông hay do những chất kich thích bôi tại chỗ. Những phương pháp điều trị mới chất gây hoại tử bướu (tumor necrosis factor – TNF)–chất ức chế alpha và chất ức chế tăng trưởng biểu bì (epidermal growth factor receptor inhibitors), nhưng chấy này thường gây viêm nang lông mụn mủ (pustular folliculitis).

Biểu hiện lâm sàng / chẩn đoán

Bệnh nhân sẽ có những bóng nước hoặc bóng mủ đỏ nhỏ, xung quanh lỗ chân lông. Tổn thương thường có vùng đáy của dương vật hay vùng bìu có thể gây đau nhẹ hay ngứa.
Pseudomonas folliculitis (Image courtesy of Hon Pa
Viêm nang lông do pseudomonas

Chẩn đoán phân biệt

Khi tổn thương vùng nang lông và viêm, thường xác định là viêm nang lông. Tuy nhiên để xác đinh nguyên nhân nên cấy mủ, cấy virus (Tzanck), hặc nấm (môi trường KOH). Không nên chỉ định sinh thiết.

Điều trị

Điều trị nên hướng trực tiếp tới vi khuẩn gây bệnh và bao gồm kháng sinh tại chỗ hay kháng sinh đường uống. Vệ sinh tại chỗ ằng chất rửa kháng khuẩn cũng nên sử dụng. Khuyến cáo bệnh nhân sử dụng sản phẩm vệ sinh mới ( như dao cạo mới).

Kết quả

Tổn thương thường khỏi khi có điều trị, biến chứng nặng thường hiếm.Điều trị thất bại khi không xác định chủng vi khuẩn gây bệnh hay vi trùng kháng thuốc, chẳng hạn như kháng – methicillin Staphylococcus aureus.

Viêm da qui đầu-qui đầu, viêm qui đầu, bệnh nấm Candidasis

 

Viêm da qui đầu-qui đầu

Viêm da qui đầu-qui đầu là bệnh viêm của da và qui đầu, ở những bệnh nhân chưa cắt da qui đầu. Rất nhiều vi trùng và nấm gây nên bệnh này. Và nhiều loại tác nhân gây bệnh cùng một lúc cũng thường hay gặp.

Sinh lý bệnh học 

Viêm da qui đầu – qui đầu thường gặp ở trẻ nam (nhỏ hơn 5 tuổi). Yếu tố thuận lợi bao gồm da qui đầu chưa tuột lên được và vệ sinh kém vùng này, làm cho nhiễm trùng. Vi khuẩn yếm khí cũng hay thường gặp. Và nhiễm Candida cũng hay xảy ra. Ở bệnh nhân nam lớn tuổi có những nguyên nhân khác như viêm kẽ (intertrigo), vêm da kích thiích, nhiễm nấm candida hay nấm khác, và nhiễm virus.

Biểu hiện lâm sàng /chẩn đoán

Bệnh nhân thường có đỏ da, sưng phù nề, đau trong vùng da qui đầu.Ở người lớn hỏi bệnh sử lâm sàng và xét nghiệm chẩn đoán, với môi trường KOH và Tzanck cũng giúp xác định nguyên nhân, chẩn đoán đúng. Sinh thiết thường không cần thiết, mặc dù nếu điều trị không đáp ứng thường phải sinh thiết để loại trừ ung thư.

Chẩn đoán phân  biệt 

Chẩn đoán phân biệt gồm viêm kẽ, viêm da kích thích, candida, nhiễm nấm, nhêễm virus. Như nhấn mạnh ở trên, bệnh sử, kết hợp với cấy trên môi trường KOH và Tzanck, thường cho chẩn đoán đúng. Ở bệnh nhân người lớn hồng sản Queyrat nên xem xét, sinh thiết nên thực hiện nếu có nghi ngờ ác tính. Nguyên nhân hiếm gặp là Amib, thường gặp ở người đồng tính.[12] Nguyên nhân này nên nghi ngờ ở bệnh nhân có đáp ứng kém với kháng sinh. Khám tìm trophozoite là cần thiết.

Điều trị

Điều trị là bôi kháng sinh và kháng nấm tại chỗ. Bôi corticoid dđể giảm viêm. Điều trị khác bao gồm vệ sinh thích hợp, rửa và làm khô da qui đầu thường xuyên. Cắt da qui đầu nếu các phương pháp điều trị nội khoa thất bại.

Kết quả

Kết quả điều trị là ngoạn mục, biến chứng nặng thường hiếm. Ít gặp hơn là viêm da tế bào và hoại tử. Nếu điều trị thất bại thì nên xem xét những chẩn đoán khác hơn, phải nghĩ tới bệnh ác tính. Có 1 trường hợp lâm sàng báo cáo, ung thư máu ở bệnh nhân viêm qui đầu da qui đầu hoại loét.[14]  

Viêm qui đầu tương bào – Plasma Cell Balanitis

Viêm qui đầu tương bào có những tên khác như như viêm qui đầu Zoon hay viêm qui đầu circumscripta plasmacellularis, được mô tả bởi Zoon vào năm 1952. Biến thể viêm qui đều này chỉ có ở người chưa cắt da qui đầu, có đặc điểm vi thể là nhiều tế bào viêm là tương bào. Mặc dù ít gặp hơn, một tình trạng bệnh tương tự cũng có ở phụ nữ là viêm âm hộ tương bào.

Sinh lý bệnh học

Nguyên nhân chưa được biết rõ. vài báo cáo thấy có nhiều tương bào ở lichen phẳng.  Trong một nghiên cứu, immmunoglobulin (Ig) E và IgG được xác định chiếm phần lớn trong tương bào viêm, vì vậy bệnh lý này liên quan tới việc phản ứng tăng nhạy cảm hơn là phản ứng viêm. Xét nghiệm immunoperoxidase thấy IgM thấp, và có tỷ lệ hỗn hợp kappa so với lambda, tương ứng với phản ứng lympho bào B.[17]  Một tiền đề khác giải thích là thay đổi môi trường của da qui đầu đưa đến vêm khoông điển hình. không có sự liên quan nhiễm HPV với viêm da quy đầu Zoon

Biểu hiện lâm sàng/ chẩn đoán

Mặc dù tuổi trung bình là 53 tuổi, bệnh nhân có thể mắc từ 18-88. Hầu hết bệnh nhân là chưa cắt da quy đầu.

Bệnh nhân thường có những mảng đơn độc, trơn láng, bờ rõ ràng, lớn (2-3cm), màu đỏ, thành mảng trên qui đầu hay mặt trong của da quy đầu. Hếm hoơn có nhiều mảng như vậy, lở hoại tử. Lâm sàng điển hình trong 85%, cả thể ở quy đầu và da quy đầu. Chỉ trên quy đầu thì hiếm gặp hơn. thoảng bệnh có tiết dịch. Lâm sàng thường là viêm mãn tính từ lúc bị bệnh đến đi káhm là 12 tháng. Cần thiết sinh thiết để chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt 

Biểu hiện lâm sàng của viêm quy đầu Zoon gống như hồng sản Queyrat. Sinh thiết để chẩn đoán phân biệt 2 bệnh này. Lichen phẳng lở loét, viêm da tiếp xúc, vảy nến, và bệnh bóng nước miễn dịch (immunobullous diseases) có thể có hình ảnh lâm sàng tương tự. Bệnh balanitis xerotica obliterans (BXO) hay viêm qui đầu xơ hóa tắt nghẽn có thể có hình ảnh vi thể giống, tuy nhiên ít có tương bào hơn. Viêm qui đầu do nấm candida cũng nên phân biệt.

Điều trị

Trước đây điều trị là phẫu thuật cắt bỏ , hoặc đốt bằng laser, mặc dù thời gian gần đây sử dụng Retin-A cũng có thành công. Sử dụng thuốc bôi corticoide có kết quả không rõ ràng. Gần đây sử dụng tacrolimus thành công hơn trong một số nghiên cứu hạn chế.

Kết quả

Mặc dù có phương pháp điều trị mới đầy hứa hẹn, nhưng phẫu thuật cắt bỏ là điều trị chuẩn nhất Phẫu thuật cắt da quy đầuđem kết quả tốt trong 27 bệnh nhân, không tái phát sau 3 năm theo dõi.[15] Hầu hết tác giả báo cáo chữa khỏi 100% với cắt da quy đầu. 

Bệnh nấm sợi tơ và ghẻ (Dermatophytosis and Scabies) 

Bệnh nấm sợi tơ

Nấm sợi tơ là nấm sinh sống lớp thượng bì keratin hoá gây ra viêm cho vùng da bị nhiễm, khi bị nhiễm ở vùng bẹn hay cơ quan sinh dục gây tình trạng ngứa vùng đùi (tinea cruris hay jock itch).

  • Sinh lý bệnh

Nguyên nhân gây bệnh là bị nhiễm vì khuẩn từ sàn nhà hay nhà tăm dùng chung. Vi nấm nhiễm vùng lớp da của vùng thượng bì. Vì nấm thường gặp là Trichophyton rubrum, Trichophyton mentagrophytes,Epidermophyton floccosum. 

  • Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán

Bệnh nhân có những mảng đỏ nâu có hình lá dương xỉ hay hình vòng với bờ nhô cao.  Những tổn thu7ong này xếp vảy. Vị trí thường là vùng đùi, háng, và hiếm hơn ở vùng bìu. Hậu quả là tróc da (excorciation) và lichen hoá, sự tróc da diễn tiến tiếp tục sẽ gây nên tình trạng bội nhiễm. Chẩn đoán là cấy dưới môi trường KOH hay sinh thiết da.  

  • Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán phân biệt gồm vảy nến, candida, đỏ da, viêm da tiết bả, viêm da tiếp xúc. Bệnh vùng bìu của nấm sợi tơ hiếm. Nếu có thì thường do candida albican.

  • Điều trị

Thuốc bôi chống nấm là hữu hiệu, làm khô da sau khi rửa sạch cũng như tránh ẩm ướt. 

  • Kết quả

Điều trị với thuốc kháng nấm là hiệu quả, không có biến chứng xảy ra. Tái phát ít gặp. Bội nhiễm vi khuẩn thường hay xảy ra và cần phải điều trị kháng sinh phối hợp.

Bệnh ghẻ

Nguyên nhân gây bệnh là con ghẻ được biết đến từ rất lâu 1687. Sarcoptes scabiei gây bệnh rất ngứa và hay lây lan. 

  • Sinh lý bệnh

Con người là nơi chưa duy nhất có con ghẻ S scabiei. Ghẻ lây lan con đường từ da qua da.[25] Mặc dù ghẻ là bệnh lây qua đường tình dục, nó cũng lây lan qua con đường tiếp xúc thông thường, quần áo hay giường chiếu.[26] Điều kiện kinh tế xã hội với tình trạng đông dân cư là yếu tố thuận lợi. Conghẻ có thể làm những tổ co chiều dài 1 cm ở thượng bì và có thể đẻ trứng ở đó. Những trứng này có thể kích thích sản sinh IgE gây ngứa. Ấu trùng (larvae) lớn lên trong tổ 4 ngày và lớn lên trong vòng 10-14 ngày. 

  • Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán

Bệnh nhân thường ngứa rất nhiều, chấm nhỏ (pinpoint), mụn nước hay bóng nước. Tổn thương có thể có vùng da có nhiều nếp gấp, như là vùng bẹn, vùng nách hay khoảng giữa các ngón tay. Tổn thương tróc da thường gặp hơn những tổn thương nguyên phát. Tổ thương cơ quan sinh dục thường là những nốt. Chẩn đoán là tìm được con ghẻ hay trứng hay phân của chúng. Mặc dù không phải luôn luôn nhưng sinh thiết có thể thấy được con cái trong lớp biểu bì nông với trứng dưới nhuộm periodic acid-Schiff (PAS). Da tẩm nhuận tế bào viêm.

Scabies (Image courtesy of Hon Pak, MD)
Ghẻ ở quy đầu
  • Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán phân biệt gồm: viêm da chàm không điển hình, viêm da tiếp xúc, hay do vật có chân khớp cắn không phải ghẻ. 

  • Điều trị

Điều trị gồm Permethrin (5%) cream bôi ngoài da. Kem này nên duy trì 8-14 ngày (qua đêm) sau đó rửa sạch. Hoặc lindane 1% lotion/kem hay dùng đường uống loại ivermectin. Ivermectin có thể lập lại sau 2 tuần. Lindane không nên cho phụ nữ có thai hoặc trẻ em dưới 2 tuổi. Sử dụng Lindane liều duy nhất không lập lại.[25] Những chất chống ngứa cũng có thể giúp ích để giảm bớt triệu chứng. Những người hay tếp xúc trong gia đình cũng nên điều trị đồng thời, không cần đợi đến khi có bệnh. ngứa có thể tiếp tục 1 tuần sau điều trị, vì phản ứng miễn dịch do những thành phân của con ghẻ còn tồn tại. Quần áo chăn màn 1 tuần trước khi điều trị cũng phải giặt sạch sẽ, làm khô trước khi sử dụng.  

  • Kết quả

Kết quả của điều trị là 90%. Có biến thể là ghẻ Na-uy hay gây dầy sừng đặc biệt có ở người suy giảm miễn dịch. Vì mật độ ghẻ cao có thể gây dịch hay bội nhiễm.

Những tác nhân nhiễm trùng cơ quan sinh dục nam

Bệnh hội xoài – Lymphogranuloma Venereum

Mặc dù không còn là nguyên nhân loạt sinh dục ở Hoa kỳ, bệnh hội xoài ( viết tắt tiếng anh LGV) chiếm 10 trong những trường hợp loét sinh dục ở những vùng như Ấn đô hay Phi châu. Chỉ có 113 trường hợp báo cáo CDC năm 1997. Gặp nam giới tuổi từ 15-40, cao ở nhóm đang hoạt động tình dục.[27, 28, 29] 

  • Sinh lý bệnh học 

Chlamydia trachomatis, là vi trùng bắt buộc sống trong nội bào, là tác nhân gây bệnh chính. Típ huyết thanh gây bệnh là L1, L2 và L3. Tốc độ truyền và nơi trú ẩn chưa được xác định rõ. Tiếp xúc với phụ nữ không có triệu chứng, được tin là nguồn lây bệnh. nhiễm LGV đặc hiệu trong 3 giai đoạn. Sau giai đoạn khởi đầu, những đại thực bào nhiễm bệnh di chuyển tới vùng hạch bạch huyết, đẫn đến viêm và có dấu hiệu lâm sàng.[28]

  • Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán

Thường gặp tuổi đang hoạt động tình dục, thường gặp nam hơn nữ. Thời gian ủ bệnh trong vòng 3-30 ngày, bóng nước không triệu chứng có tại vị trí tiếp xúc. Những tổn thương này vở ra gây đau và loét, lành tự nhiên có thể trong vòng 1 tuần, giai đoạn ban đầu có thể không được chú ý bởi bệnh nhân.[28]

Gai đoạn thứ hai trong 2-6 tuần, vớ triệu chứng viêm hạch, hạch bẹn và hạch đùi cùng bên  kèm viêm bạch huyết (bubo). Hạch viêm này có thể mềm và dễ vỡ, hoặc chúng có thể trở thành những nốt không mưng mủ. 1/3 bệnh nhân có viêm hạch dưới dây chằng Poupart đó là dấu hiệu đường rãnh. Sốt, đau khớp, mệt mỏi cũng có thể xảy ra trong giai đoạn này.[28]
Trong giai đoạn 3, hay còn gọi là hội chứng sinh dục hậu môn, được quy cho là đáp ứng viêm mãn tính của C Trachomatis trong vùng háng. Giai đoạn này đặc trưng bởi triệu chứng viêm trực tràng hậu môn, dò quanh trực tràng, áp -xe, hẹp, hay hẹp trực tràng.[28]
LGV có thể chẩn đoán dựa trên vitrùng trong môi trường cấy, bệnh phẩm được hút từ hạch viêm. Tuy nhiên cấy rất mắc và khó về mặc kỹ thuật, và chất trung gian như tế bào McCoy hoặc HeLa, thường không sẵn có. Dưới điều kiện tối ưu chỉ có 50% phân lập được.[30]  Bởi vì th1ach thức như vậy nên chẩn đoán thường là huyết thanh. Test cố định bổ thể thường sử dụng nhất và dương tính sau 2 tuần bị nhiễm. Chỉ số lớn hơn 1:64 là chỉ số cao nói lên tình trạng nhiễm trùng.[30] Nên cẩn thận khi xét nghiệm này dương tính có thể do phản ứng chéo giữa các loại vi khuẩn. Gần đây xét nghiệm PCR có thể đánh giá với tỷ lệ thành công cao..[31, 32, 33, 34]
Lymphogranuloma venereum (Image courtesy of Hon Pa
Bệnh hội xoài

  • Chẩn đoán phân biệt

Gồm hạ cam mềm (chancroid), nhiễm herpes virus, giang mai. Những bệnh này phân biệt nhau dựa vào lâm sàng, huyết thanh chẩn đoán, xét nghiệm chất tiết cấy trên vết loét, và môi trường thích hợp. Viêm hậu môn trực tràng có triệu chứng giống với bệnh viêm đại tràng.

  • Điều trị

Kháng sinh doxycycline 100 mg, uống, 2 lần ngày, trong 21 ngày. Thuốc uống erythromycin 500 mg , 4 lần trong ngày trong 21 cũng hiệu quả. Hút hay dẫn lưu những hạch mủ này có thể cần thiết. Hậu quả sẹo và xơ cần phải phẫu thuật can thiệp.[35, 28]

  • Kết quả

Kết quả phụ thuộc vào mức độ viêm, sẹo và xơ. Nếu điều trị sớm, những biến chứng nghiêm trọng hiếm khi xảy ra. Tuy nhiên trong giai đoạn trễ, những biến chứng do viêm sẹo, hẹp, áp-xe hay tạo dò, phù chân voi cũng hay thường gặp. Mặc dù hiếm, biến chứng tim phổi cũng có thể xảy ra nếu không điều trị.

Giang mai thời kỳ đầu – Primary Syphilis

Ở Hoa kỳ tần suất mắc bệnh giang mai đã giảm dần trong năm 2000. tuy nhiên giang mai đã trở lại trogn những năm gần đây trong vài nhóm dân số đồng tính, quan hệ tinh dục 2 giới, người nhiễm HIV, gái điếm, vùng nông thôn sử dụng ma tuý. Quan hệ tình dục với người mắc bệnh.[28, 36]

  • Sinh lý bệnh học

Nguyên nhân gây bệnh là Treponema pallidum. Qui trình bệnh học chưa được biết rõ vì không có động vật nào có thể thí nghiệm. Do quan hệ tình dục với người nhiễm bệnh nững nời trong giai đoạn đầu của bệnh ( trng vòng những năm đầu). Vi khuẩn đi vào da và niêm mạc, nhiễm trùng xảy ra sau 2-4 tuần ủ bệnh [37, 38, 36]

Nhiễm vi tùng giang mai xảy ra 23 ng giang mai xảy ra qua 3 giai đoạn lâm sàng. Tổn thương ban đầu được biết như là săn (chancre) giang mai, phát triễn tại vị trí nhiễm. Gia đoạn tiếp theo là, giang mai thứ phát, có nhiều biểu hiện lâm sàng, chủ yếu ở da và niêm mạc. Tổn thương giai đoạn 1 và 2 là dễ gây nhiễm. Sau giai đoạn 2 là thời kỳ phát triễn chậm (latencey). Cuối cùng, giai đoạn 3 (tertiary), bệnh lan đến thần kinh và tim mạch. Gai mai giai đoạn 3 hiếm, chiếm 1/3 các trường hợp không điều trị.[37, 38]

  • Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán

Giai đoạn của giang mai có biểu hiện lâm sàng khác nhau. Giang mai sơ cấp biểu hiện loét dương vật không đau (chancre). Tổn tương này thường có ở quy đầu, da quy đầu, hoặc bìu. Có tới 5% ngoài cơ quan sinh dục. Tổn thương hậu môn trực tràng cũng thường gặp trong giang mai, có thể biểu hiện lâm sàng là nứt hậu môn. Hạch bẹn không đau. Hiếm hơn có nhiều hơn 1 tổn thương, tổn thương chancre này tự hết torng vòng 3-6 tuần.[28, 37, 38]

Thời kỳ 2, 6-8 tuần sau xuất hiện chancre, có biểuhiện da và niêm mạc. Biểu hiện là những bóng nước không có triệu chứng, lòng bàn tay bàn chân. Đặc điểm niêm mạc là mảng niêm mạc (mucous patch) đặc biệtniêm mạc miệng. Biểu hiện da của giang mai thời kỳ này là  luôn thay dổi, biểu hiện là mảng rụng tóc trên da đầu cho đến tổn thương giống như mụn cóc. Ở người nhiễm HIV giai đoạn 2 có thể chồng lấp với giai đoạn 1.[28, 37, 38]

Giang mai giai đoạn 3 hiếm gặp ở Hoa kỳ gọi là giang mai thần kinh (Neurosyphilis), giang mai tim mạch (cardiovascular syphilis) và gummata.[28, 37, 38]

Tiêu chuẩn chẩn đoán giang mai giai đoạn đầu là tìm thấy vi trùng giang mai trong tổn thương, trên kính hiển vi nền đen (dark-field). Có khó khăn về mặt kỹ thuật, và ít khi làm thường qui. Trong lâm sàng thường làm test huyết thanh chẩn đoán như là (VDRL) và test rapid plasma reagin (RPR) sử dụng để tầm soát. Nếu dương tính đây là những phương pháp định lượng kháng thể.[28, 37]

Để xác định chắc chắn hơn, có những xét nghiệm đặc biệt hơn như test fluorescent treponemal antibody absorption (FTA-Abs). Một khi bị nhiễm, test này dương tính, không cần biết bệnh nhân có điều trị hay không. Tuy nhiên test này cũng dùng để theo dõi điều trị.

Primary chancre of syphilis (Image courtesy of Hon
Săn (chancre) giang mai nguyên phát

Giang mai có test huyết thanh âm tính có thể xảy ra ở những bệnh nhân nhiễm HIV. Chẩn đoán dựa vào tìm thấy vi trùng giang mai nhuộm bạc hoặc xét nghiệm hoá mô miễn dịch mô tẩm paraffin hoặc test PCR trên vùng mô tổn thương. Nếu cao có thể à do điều trị thất bại hay tái nhiễm. Cấy vi khuẩn không thể thực hiện được.[28, 37, 39, 40, 41, 42]

  • Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đáon phân biệt bao gồm  bệnh săn (chancre), hạch bẹn (granuloma inguinale), hay nhiễm herpes virus, và hột xoài LGV. Những bệnh lý này dựa trên biểu hiện lâm sàng, huyết thanh chẩn đoán, xét nghiệm chất tiết, hay xét nghiệm mô loét, cấy vi khuẩn. Khả năng nhiễm đồng thời hay bội nhiễm vi khuẩn khác cũng thường có hki biểu hiện lâm sàng không điển hình ở bệnh nhân có HIV dương tính.

  • Điều trị bao gồm

Penicillin G (2.4 triệu đơn vị, liều duy nhất) vẫn còn là công thức điều trị được yêu thích. Liều thứ hai sau liều đầu 1 tuần. Doxycycline (100mg, 2 lần/ngày trong 2 tuần) hoặc tetracycline (500mg ngày 4 lần trong 2 tuần) là những điều trị  thay thế cho PNC. Bệnh nhân nên biết điều trị có thể làm cho phản ứng sốt cấp thoáng qua kèm nhức đầu và đau cơ có thể xảy ra sau 24 giờ sau lều đầu tiên. Huyết thanh làm lại sau 3,6,12 tháng để đảm bảo chắc giảm kháng thể không tái nhiễm. Kháng sinh không còn tác dụng trong thời kỳ 3.[28] 

Bệnh da do virus

U nhầy lây (Molluscum Contagiosum)Được đặc tên vào năm 1817 bởi Bateman, molluscum contagiosum là loại bệnh da dovirus thường gặp ở trẻ nhỏ và người lớn hoạt động tình dục. Đường lan truyền là da-da. Ở người lớn vùng bộ phận sinh dục là thường gặp. Vùng ặt ít gặp trừ trong trường hợp HIV dương tính

Sinh lý bệnh học

Nguyên nhân gây bệnh là DNA poxvirus nhiễm lớp biểu mô (epithelium) dẫn đến tăng sản tế bào và tăng sản sinh thể virus. Khi tế bào vỡ ra, nhữngạt này được phóng thích và gây lây lan bệnh. Sau thời gian ủ bệnh 2-7 tuần, những bóng nước có thể phát triễn và kéo dài 2-6 tháng. Tự nhiễm cũng thường gặp.Biểu hiện lâm sàng

Nhiễm Molluscum contagiosum có đặc điểm những bóng nước rất tế nhị, trog suốt, có hình vòm, có màu da hay màu trắng. Vùng rốn của tổn thương thường có. Tổn thương thường có kích thước 1-8mm nhưng những tổn thương lớn hơnc ó thể nhìn thấy ở bệnh nhân HIV dương tính. Bất cứ vùng nào cơ quan hậu môn sinh dục cũng có thể nhiễm bệnh, gồm dương vật, bìu, ha da xung quanh.

Bệnh này chẩn đoán dựa vào xét nghiệm. Nạo curet lấy tổn thương. Chất dịch màu trăng vàng để đánh giá vi trùng học. Có thể nhìn thấy thể molluscum contagiosum.

Giải phẩu bệnh học thấy bóng nước với vùng rốn trung tâm xung quanh thượng bì tăng sản. Chẩn đoán là thấy những thể Henderson-Patterson trong bào tương, ưa eosin, lớn.

Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán phân biệt là mào gà condyloma acuminata/HPV, viêm nang lông (folliculitis), milia, tuyến bả lạc chỗ (ectopic sebaceous glands), và nang thượng bì nông (superficial epidermal). Khi cơ thể phản ứng miễn dịch lại thì bệnh này giống như bệnh mụn nhọt (furuncle) hay impetigo.

Nhiễm Herpes Simplex

HSV là nhiễm trùng thường gặp nhất của loét sinh dục ở những quốc gia đang phát triễn. Tỷ lê huyết thanh dương tinh tắng cao dân sống trogn thành thị. HSV-1 là nguyên nhân hàng đầu của herpes sinh dục chiếm 5-30% các trường hợp nhiễm ban đầu. Vì virus có thời kỳ nhiễm trể (latent infection), nên bệnh thường hay tái phát. Có thể điều trị bằng thuốc kháng virus hiệu quả.

Sinh lý bệnh học

HSV là virus DNA có lipid bao bọc nhiễm trùng chủ yếu vùng da và niêm mạc. Virus nhân đôi lên tại vị trí nhiễm trùng sau đó di chuyển theo thần kinh cảm giác tới hạch rể thần kinh tủy sống, nơi đó nó đóng vai trò nhiễm trùng tiềm tàng. Rất nhiều cơ chế lên quan tới hoạt hóa của virus, bao gồm miễn dịch, hoại tử mô, stress, và hoặc tiếp úc tia cực tím. Nếu virus được hoạt hóa, virus bắt đầu nhân đôi lên và biển hiện lâm sàng nơi nhiễm ban đầu. Mặc dù phản ứng miễn dịch của thể chủ, phát tán virus ra ngoài có thể xảy ra.

Mặc dù nhiễm trùng không thể tiệt trừ,cả cơ chế miễn dịch tế bào và hormon liên quan trong việc giới hạn nhiễm trùng và ngừa tái nhiễm với HSV-2. Mặc dù có sự chồng lấn giữa 2 loại trên, HSV-2 có thiên hương cho vùng hậu môn sinh dục, trong khi HSV-1 cò vùng miệng và môi lớn và niêm mạc.

Khuynh hương của virus này cho một số vị trí chưa được biết rõ. Sự lây lan xảy ra khi virus rơi ra ngoài từ những tổn thương đang hoạt động. Hầu hết bệnh nhân nhiễm HSV -2 không bị lập lại triệu cúứng lúc nhiễm ban đầu. hầu hết sự lây lan ( tới 70%) xảy ra torng quá trình rơi vảy virus không có triệu chứng (asymptomatic shedding).

Lâm sàng và chẩn đoán

Biểu hiện lâm sàng của HSV có thể phân loại từ nguyên phát cho đến tái phát. nhiễm trùng nguyên phát là bệnh nhân lần đầu tiên tiếp xúc HSV sinh dục. nhiễm trùng tái phát là hậu quả của sự hoát hóa virus của lần bị nhiễm lúc trước. HSV sinh dục có triệu cúứng lâm sàng sau 3 tuần tiếp xúc ban đầu. nam giới thường có triệu chứng đau, và nổi những mụn nước (papulovesicles). Herpes niệu đạo cũng có thể xảy ra, nếu bệnh nhân có dịch tiết từ niệu đạo, hay tiểu gắt. Sau 2-3 tuần những mụn nước này sẽ phát triễn thành mụn mủ, lở lét, sau đó da lành có mài (crusting).

Hạch vùng có thể có, hay triệu chứng toàn thân cũng có thể có. HSV tái phát là thường gặp nhất trên lầm sàng, đặc điểm là xuất hiện từng đám mụn nước  sau đó nhanh chóng lở loét. Vị trí thường gặp là dương vật quy đầu, thần dương vật; tuy nhiên bất kỳ vị trí nào của vùng hậu môn sinh dục cũng có thể bị ảnh nhiễm bệnh. ngoài ra có thể bị những vùng khác như, đùi, mông, vùng mu cũng có thể là những vị trí thường gặp của HSV sinh dục. Vài người có tiền triệu chứng thần kinh như ngứa, ngứa như kiến bò (tingling), bỏng rát, trước khi có tổn thương.

Ở những người suy giảm miễn dịch, HIV dương tính, biểu hiện của HSV sinh dục có thể không đển hình. Tổn thương có thể lành rất chậm, hay vết loét thường lớn rộng hơn là từng đám nhỏ. HSV sinh dục có thể là những tổn thương lồi ra ngoài giống như trong bệnh mào gà.  Tổn thương này (vegetative) góống như những tổn thương ung thư. Theotiêu chuẩn của CDC thì loét HSV kéo dài hơn 1 tháng là dấu hiệu của bệnh thường có ở nhóm bệnh nhân nhiễm HIV.

Phân lập được HSV là xét nghiệm chẩn đoán xác định. Cấy những tổn thương đầu tiên chó kết quả chẩn đoán cao. Nhuộm Tzanck có thể rất hữu dụng và nhanh hơn test khác. Tuy nhiên cũng rất khó khắc vì không phân biệt HSV với herpesvirus khác (như varicella-zorter virus).

Những test chẩn đoán khác thường gặp là phân tích huỳnh quang trực tiếp (DFA). kết quả trong vòng vài giờ. PCR cũng có thể sự dụng, tuy nhiên không phải đâu cũng có.

Mặc dù những test huyết thanh khác cũng sẵn có, những chúng không đặc hiệu cho HSV 1 và 2, và kết quả dương tính không có nghĩa là bệnh nhân đang nhiễm cấp. Trong vài bệnh nhân, đặc biệt những người có biểu hiện bệnh không điển hình, sinh thiết tổn thương cũng cần thiết để thiết lập chẩn đoán HSV sinh dục.

Chẩn đoán phân biệt

Săng giang mai, chancroid, LGV, hạch bẹn to, bệnh Behçet, candidiasis loét, đỏ da đa dạng, bệnh Crohn da. Những tổn thương không điển hình giống với mào gà hay ung thư tế bào vảy.

Điều trị

Tiệt trừ virus là không thể được. Điều trị bao gồm giảm triệu chứng và sự nhiễm. Ở những bệnh nhân còn sức đề kháng mạnh, cơn lâm sàng ban đầu có thể  điều trị bằng  acyclovir uống (400 mg 3 lần ngày), famciclovir (250 mg 3 lần ngày), hoặc valacyclovir (1 g 2 lần ngày) trong 7-10 ngày cho tới khi tổn thương hoàn toàn chữa lành. làm ngắn lại thời gian virus phát tán bên ngoài nhưng không giảm mức độ trầm trọng của bệnh và sự tái phát.  80% bệnh nhân sẽ không có triệu chứng trong vòng 5 năm. Quyết định sử dụng thuốc cũng phụ thuộc vàoyếu tố tinh thần của bệnh nhân.  CDC khuyến cáo điều trị ức chế (suppressive therapy) bao gồm acyclovir (400 mg 2 lần ngày), famciclovir (250 mg 2 lần ngày), hoặc valacyclovir liều 500-1000 mg hàng ngày. Đề kháng với acylovir cũng có thể xảy ra đặc biệt ở người ghép tạng hay AIDS

Nếu bệnh nhân không đáp ứng với điều trị như trên, thì nên xét nghiệm xem độ nhạy của virus. Sử dụng foscarnet tiêm mạch có thể áp dụng cho trường hợp kháng acyclovir. bệnh nhân có tổn thương to lồi ra ngoài có thể phẫu thuật cắt bỏ.