Giúp trí nhớ PHẪU THUẬT NIỆU CĂN BẢN

Trước khi mổ cho bệnh nhân nữ đang còn tuổi sinh đẻ phải chú ý xem bệnh nhân có thai hay không.

ASA là thang điểm để đánh giá nguy cơ tử vong.

Đánh giá tim mạch trước mổ là đánh giá bệnh mạch vành, suy tim, loạn nhịp, mang máy tạo nhịp, máy khử rung. Nguy cơ tim mạch cao nhất là gần đây (1 tháng) có tiền sử nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực không ổ định, có thiếu máu cơ tim, suy tim mất bù, loạn nhịp tim và bệnh van tim.

Bệnh nhân có FEV1 dưới 30% xem nguy cơ cao.

Sử dụng ức chế bêta làm giảm nguy cơ tử vong ở bệnh nhân phẫu thuật mà không phải là phẫu thuật tim mạch. Tuy nhiên gần đây người ta nghi ngờ điều này.

Bệnh nhân có suy trục hạ đồi-tuyến yên- tuyến thượng thận do steroid ngoại sinh nên cho 50-100mg hydrocortisone trước tiền mê và 25-50mg mỗi 8 giờ sau đó cho tới khi bệnh nhân bắt đầu lại bình thường tiến trình điều trị corticoid như bình thường hàng ngày của họ.

Ở người già đột nhiên có tình trạng mê sảng lú lẫn (dilirium) là dấu hiệu đầu tiên của thiếu oxy não, rối loạn chuyển hóa hay nhiễm trùng.

Ở bệnh nhân có thai, đau sau mổ phải kiểm soát tốt bằng thuốc giảm đau thật mạnh.

Thời gian bán hủy của warfarin là 36-42 giờ, khuyến cáo ngưng warfarin 5 ngày trước phẫu thuật.

Ở bệnh nhân có nguy cơ cao về điều trị kháng đông, liều điều trị bắt cầu là sử dụng heparin phân tử thấp. Ngưng 12 giờ trước phẫu thuật và bắt đầu lại sau phẫu thuật.

Nguy cơ tử vong lớn nhất của truyền máu là tổn thương phổi sau truyền máu.

Hạ thân nhiệt sẽ làm tăng mất máu làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng vết mổ.

Vết thương sẽ phục hồi độ chắc 3% sau 1 tuần, 20% sau 3 tuần, 80% sau 3 tháng.

Chỉ tan nhanh dùng khâu cân mũi liên tục làm gia tăng nguy cơ thoát vị vết mổ sau mổ

Please follow and like us:
0

One thought on “Giúp trí nhớ PHẪU THUẬT NIỆU CĂN BẢN

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

error: đừng chép!